Friday, June 22, 2007

Cha Vàng: 3 năm bị cùm hai chân , cả hai tay trong xà lim số 5 của Cộng Sản

Đêm Noel Trong Xà Lim Số 6
Ngày tháng: 28/12/2006

Vũ Ánh
Mùa Giáng Sinh 2006



Ngày 29-4-1984, tôi được chuyển sang xà lim số 6 trại A-20 ở chung với Linh Mục Nguyễn Văn Vàng, linh hồn của một vụ nổi dậy do ngài và người em chủ trương năm 1976. Tôi hoàn toàn không hiểu lý do của việc chuyển xà lim cá nhân này. Ðây cũng là ngày mà tôi đánh dấu 3 năm bị cùm hai chân và có giai đoạn cả hai tay trong xà lim số 5. Phải nói là tôi bị gông thì đúng hơn. Nếu quý vị được nhìn thấy những tội phạm của thời phong kiến bị gông như thế nào thì chúng tôi bị gông như thế nấy. Chỉ có khác là nhà tù Cộng sản không gông cổ mà thôi.

Linh Mục Vàng, một nhà giảng đạo lỗi lạc của dòng Chúa Cứu Thế, sau khi bị lên án chung thân khổ sai sau vụ và em ruột ngài là Linh Mục Hiệu bị xử tử, đã bị đưa lưu đầy tại trại A-20 Xuân Phước. Khi tôi đã nằm cùm trong biệt giam trong phòng số 5 được 2 năm thì một hôm Linh Mục Nguyễn Văn Vàng lúc ấy từ trại lao động bị đưa vào xà lim số 6, bên cạnh xà lim tôi bị giam.

Khi còn ở ngoài trại lao động, ngài là đối tượng theo dõi của đám an ninh trại giam, nhất cử nhất động đều không qua mắt được một giàn ăng ten dầy đặc vây quanh vị tu sĩ công giáo này. Bọn an ninh trại nói thẳng ra rằng nếu chúng bắt gặp bất cứ tù nhân nào liên hệ với Linh Mục Nguyễn Văn Vàng, sẽ cùm ngay.

Tôi là một Phật tử, nhưng mối liên hệ với Cha Vàng khá thân thiết và chúng tôi thường đàm đạo với nhau vào mỗi ngày sau giờ cơm chiều trước khi điểm số để vào buồng giam, không chấp lệnh của trại. Có lẽ đây là lý do bọn an ninh trại đưa tôi đi “nghỉ mát” trước và 2 năm sau họ đưa Cha Vàng và một vài anh em nữa vào những chiếc hộp nhỏ ở ngay say nhà bếp của trại A. Trại tập trung A-20 ở Xuân Phước thường được chúng tôi gọi là trại trừng giới (danh từ có từ thời Pháp thuộc để chỉ những trại có quy chế trừng trị tù nhân khắt khe). Cục Quản Lý Trại Giam của Cộng Sản thì gọi những loại trại này là Trại Kiên Giam. Tại sao chính quyền Cộng Sản gọi những trại được đánh mã số bằng chữ A và tiếp theo là một hàng con số? Thật ra thì rất ít người được biết lý do tại sao lại gọi A-20 là một trại kiên giam nếu không có dịp bị gọi đi thẩm cung nhiều lần trước khi được “gởi” vào những chiếc “hộp” ở Xuân Phước. Sau biến chuyển đánh dấu bằng việc Trung Quốc tấn công 6 tỉnh sát biên giới Việt Trung năm 1979, Cục Trại Giam được lệnh thực hiện một kế hoạch gọi là “Phương Án 4”, nghĩa là thực hiện một kế hoạch tuyển lựa tất cả những thành phần cứng đầu “không thể cải tạo được nữa” để đưa vào những trại A và trại Z. Kế hoạch này là tác phẩm của một viên Ðại Tá về sau này trở thành một tướng lãnh công an tên là Hoàng Thanh (có lẽ là bí danh). Hoàng Thanh đã thẩm cung chúng tôi và rất nhiều tù nhân khác mấy tháng trước khi tôi bị chuyển trại về A-20. Lần sau cùng là vào mùa Thu 1979, khi thẩm cung tôi lần chót, ông ta cười cười nham hiểm nhưng nói huỵch toẹt: “Tôi biết chắc chắn là khi chuyển về trại mới, các anh không còn ngày ra. Cho nên tôi khuyên các anh là tốt nhất nên ngoan ngoãn để hưởng khoan hồng của nhà nước, nói chung là được mang vợ con cách anh lên lập nghiệp ở đây cho gần. Khu vực trai giam sau này sẽ trở thành một đập nước và một thị trấn. Chúng tôi muốn thiết lập một trong những tiểu Siberia. Bây giờ, tôi thấy không còn cần phải giấu diếm gì các anh nữa”.

Trại A-20 lúc đầu (1979) có tới 4 trại được đánh số A, B, C, D, ở cách nhau trên dưới 5 cây số. Trại A được xây hoàn bằng bê tông cốt sắt tường, bệ nằm, vườn rau ao cá dưới những rặng dừa xanh tốt. Nhưng bên trong những dãy nhà gạch, mái ngói đỏ au đó là những phương thức câu thúc thân thể và tinh thần không khác dưới các trại giam ở Siberia dưới thời Stalin mà phần lớn người đọc sách ở Miền Nam Việt trước 1975 đều biết qua cuốn “Quần Ðảo Gulag” của văn hào Solzhenitsin. Tôi sẽ có dịp nói đến chuyện này trong một bài viết khác. Bây giờ tôi quay lại chủ đề của bài viết này.

Những người dây dựng trại Xuân Phước là ai? Cái oái oăm của lịch sử mà chúng tôi gặp phải chính là ở chỗ: Trại tù này lại do chính bàn tay của những người từng được di tản tới Guam trước ngày 30-4-1975, sau đó lại biểu tình đòi trở về lại Việt Nam bằng tầu Việt Nam Thương Tín, tạo dựng lên. Lúc chúng tôi được chuyển trại về đây thì có một số vẫn chưa được trả tự do. Chạy nạn Cộng Sản tới Guam, rồi vì những lý do riêng biệt hầu hết là vì gia đình còn kẹt lại, trong cơn hoang mang và đau khổ tột độ, tình cảm che lấp lý trí và bị kích động, họ đòi quay trở về với lý do xây dựng lại quê hương sau chiến tranh. Nhưng người Cộng Sản thừa hiểu, những người tị nạn này quay trở về chỉ vì có người còn vợ con, có người còn mẹ già không có người săn sóc, có người hoảng loạn bỏ lại vợ mới cưới, người tình đằng sau. Cho nên, Cộng Sản mở một cuộc đón tiếp để quay phim chụp hình và sau đó đẩy tất cả đàn ông vào khu rừng Xuân Phước và bị buộc phải xây dựng nhà tù này để chính quyền Cộng Sản giam giữ chính những đồng đội của mình. Tôi đã có rất nhiều dịp tiếp xúc với họ, nên hiểu được tấm lòng của họ và thấy họ đáng thương quý hơn là đáng trách. Một sĩ quan xưng là quản gia cho tướng Nguyễn Cao Kỳ tâm sự với tôi: “Cậu tính coi, lúc đó vì hoang mang đi gấp không kịp lôi vợ con và bà mẹ già theo. Ðến Guam, cứ nghĩ đến họ, làm sao nuốt nổi miếng cơm chứ. Tôi biết nhiều người không thể thông cảm được lý do tôi trở về, trong đó có thể có cả vợ con tôi nữa, nhưng đành chịu vậy. Cho nên dù bị đẩy vào hoàn cảnh khốn nạn như thế này, tôi vẫn thấy lương tâm yên ổn hơn”.

Tôi không có ý định nói chi tiết về vụ này mà muốn trở lại cái đêm Noel trong xà lim số 6. Xà lim là tiếng dịch theo âm Việt Nam của “cellule” (tiếng Pháp), xuất hiện trong văn chương và báo chí từ thời Pháp thuộc. Thực ra nếu tra tự điển tiếng Anh Việt hay Pháp Việt, chữ cell hay cellule đều có nghĩa là “tế bào”. Trong các trại tù của những quốc gia theo chủ nghĩa tư bản cũng như chủ nghĩa cộng sản, hoặc các quốc gia dân chủ tự do, những “tế bào” vẫn được hiểu là những phòng biệt giam cá nhân để trừng phạt những tù nhân nguy hiểm. Những phòng biệt giam cá nhân này thường được xây dựng theo một tiêu chuẩn giống nhau: Không gian nhỏ hẹp của chúng phải đáp ứng được nhu cầu trừng phạt cả thể xác lẫn tinh thần người tù. Riêng tại các trại cải tạo do người Cộng Sản dựng lên, những phòng biệt giam cá nhân được gọi bằng một nhóm từ “nhà kỷ luật”. Trại A ở A-20 Xuân Phước có một dãy 10 phòng biệt giam cá nhân, mỗi phòng như vậy giống như một cái hộp với bề rộng 3 thước, dài 3 thước, cao 6 thước, xây dựng bằng vật liệu bê tông cốt sắt, kín mít chỉ có một lỗ tò vò nhỏ ở cánh cửa trước để cho vệ binh kiểm soát tù nhân ở bên trong. Ở phía trong mỗi xà lim cá nhân, có hai bệ nằm song song, cách nhau bằng một khoảng hẹp khoảng nửa thước. Người tù nằm trên bệ quay mặt ra phía cửa hai chân bị cùm chặt bằng một cùm sắt (trong hình), có nhiều trường hợp bị cùm cả hai chân hai tay.

Nhưng cùm như thế nào? Có phải là cùm bằng còng số 8 như ta thấy cảnh sát Mỹ còng tay phạm nhân để giải giao về sở cảnh sát không? Thưa không phải như vậy! Làm gì chúng tôi lại được ưu đãi đó. Loại còng trong những xà lim mà tôi trải qua suốt 5 năm liên tiếp tại A-20 trong rừng Xuân Phước là “cùm Omega”. Tại sao lại gọi loại cùm này bằng cái tên của một hiệu đồng hồ rất nổi tiếng là đồng hồ Omega. Hai cái vòng sắt để khóa hai chân người có hình thù giống y chang logo của đồng hồ Omega (minh họa của Bùi Ánh). Khi bị còng trong xà lim, người tù cải tạo bị đẩy ngồi lên bệ nằm, duỗi thẳng hai chân. Viên cán bộ an ninh trại giam sai một trật tự lấy ra một lô vòng sắt hình ký hiệu omega ra và ướm thử vào cổ chân người tù. Nếu đám an ninh trại giam không có ý định trừng phạt nặng tù nhân cải tạo thì họ ra lệnh cho trật tự lấy hai vòng omega vừa vặn với cổ chân người tù cải tạo. Ngược lại nếu họ muốn trừng phạt nặng và muốn làm nhiễm độc thối chân người tù, họ tra vào cổ chân tù cải trạo hai vòng omega nhỏ hơn vòng cổ chân rồi đóng mạnh xuống. Khi cổ chân người tù lọt vào được chiếc vòng omega, nó đã làm trầy trụa một phần hay nhiều phần cổ chân người tù. Sau đó, họ tra vào bên dưới một cây sắt dài qua những bốn lỗ tròn ở hai vòng omega, một đầu cây sắt ăn sâu vào mặt tường trong, đầu phía ngoài của thanh sắt được xỏ qua một chốt được gắn thật sâu xuống cạnh bên ngoài của bệ nằm. Một cây sắt khác ngắn hơn, một đầu được uốn tròn, đầu kia của cây sắt này được đánh dẹp và khoan một lỗ nhỏ. Khi hai thanh sắt này được khóa chặt với nhau thì một đầu của cây sắt dọc sẽ xuyên qua một lỗ nhỏ tường phái trước, thò ra ngoài ra ngoài một đoạn. Chỉ việc tra một cái khóa vào đầu phía ngoài ấy của thanh sắt dọc là tất cả hệ thống trên sẽ tạo thành một cái cùm thật chặt khó lòng một người tù nào có thể mở khóa vì mấu chốt để tháo cùm là ổ khóa bên ngoài. Phải mở được ổ khóa bên ngoài thì mới mở được cùm.

Có bốn mức cùm dành cho một tù cải tạo khi họ bị biệt giam ở trại Xuân Phước: Mức độ 1: Cùm một chân phải, mức độ 2: Cùm một chân trái, mức độ 3: Cùm hai chân, mức độ 4: Cùm hai chân hai tay. Tôi đã trải qua mức độ 4 trong 8 tháng liên tiếp, sau đó giảm xuống mức độ ba, rồi lại tăng lên mức độ 4 trước khi giảm xuống mức độ 3, 2 rồi 1. Khi còn bị cùm mức độ 4, ngoài hai bữa ăn và ban đêm, tôi được tháo cùm 2 tay, thời gian còn lại lúc nào tôi cũng phải ngồi cong như con tôm luộc vì kiểu cùm độc ác này. Sở dĩ tôi được giảm xuống mức độ 3 rồi trở lại mức độ 4 chỉ vì một sự kiện: Sự can thiệp của Hội Ân Xá Quốc Tế để thả tôi ra. Khi hai thành viên của Hội này là bà Frederick Fuchs (người Bỉ) và ông Pierre Carreaux (cựu chiến binh người Pháp) từ Belgique bay qua Bangkok với một danh sách 14 ký giả, phóng viên bị trả thù bởi chế độ mới tại Việt Nam và đòi đến Hà Nội để được gặp mặt những người này. Chỉ có bà Fuchs là được vào Hà Nội, nhưng bà chỉ được nhận hồ sơ can thiệp và được phép thăm bà mẹ tôi tại Saigon chứ không được đến trại A-20 gặp mặt tôi. Khi bà Fuchs đòi chiếu khán ở Bangkok để vào Hà Nội trùng vào thời điểm tôi được tháo cùm hai tay và thời gian bà Fuchs rời Hà Nội trùng thời gian tôi bị trở lại mức cùm số 4. Trước khi tôi được tháo cùm hưởng ân huệ ở mức độ 2, thì một phái đoàn do Hoàng Thanh hướng dẫn từ Hà Nội vào “thăm” A-20. Ông ta lôi một lô những người tù cải tao đang nằm trong biệt giam tại trại A cũng như B ở A-20 ra thẩm cung. Tôi được một trong những thẩm vấn viên cho xem bản sao những lá thư can thiệp đòi thả tôi, và 13 ký giả khác trong đó có kèm theo cả những lá thư của bằng hữu và đồng nghiệp với tôi ở Pháp, trong đó có thư của ông Trần Văn Ngô tức ký giả Từ Nguyên, một cựu phóng viên của Việt Tấn Xã thuộc lớp đàn anh chúng tôi. Sau đó anh ta nói thẳng với tôi: “Bọn mày thấy đấy, mấy thằng Tây này kể cả mấy thằng ký giả Việt gian chạy trốn tổ quốc không thể đánh tháo chúng mày được. Khôn hồn thì chịu cải tạo để không bị chết trong cùm. Suốt đời chúng mày sẽ không ra khỏi cái thung lũng này được đâu. Ân Xá Quốc Tế hả, còn khuya bọn nó mới làm gì được chúng tao”. Tôi không trách gì việc can thiệp này mà lại còn vui là đằng khác, bởi vì nó củng cố cho tôi một niềm tin và thấy được tấm lòng hào sảng của bạn bè đồng nghiệp ra được nước ngoài. Tôi thành thật tri ân họ.

Những ngày tiếp theo, tôi bị nâng cùm ở mức độ 4 và bị cắt khẩu phần ăn xuống chỉ còn bằng một nửa so với các anh em bên ngoài, nghĩa là chỉ còn mỗi bữa ăn 150 grams. Nếu tính chi ly ra thì 150 grams thực phẩm mỗi ngày gồm khoản 5 lát khoai mì khô luộc và một muỗng cơm, tất cả chan đẫm nước muối và được phát cho nửa ca nước một ngày. Ăn mặn và uống nước ít, người rất dễ bị phù sẽ ảnh hưởng tới thận. Trong tù mà bị thận thì kể như tàn đời. Cho nên ăn lúc đó trở thành ít quan trọng hơn dù lúc đó chúng tôi đã là lũ ma đói. Cái khát triền miên đã che đi cái đói. Nếu tôi muốn ăn muốn ăn được khẩu phần dành cho người đang bị trừng phạt phải dùng ít nhất nửa phần nước để rửa bớt cái mặn của nước muối được chan vào cơm và khoai mì. Tôi không dám hy sinh những muỗng nước quý như vàng lúc đó để rửa phần khoai. Tôi nghĩ chỉ có cách nhịn, nhưng càng đói lả đi thì mồ hôi ra như tắm, một tình trạng hết sức nguy hiểm. Cha Vàng thấy tôi lả đi, ngài đập cửa báo cáo nhưng đám cán bộ của nhà kỷ luật im lặng, coi như không có chuyện gì xảy ra. Buổi trưa hôm đó, cha Vàng nẩy ra một ý kiến. Ngài nói: “Anh không thể tránh ăn mãi như thế. Nếu chúa che chở cho mình, phù cũng không chết. Bố tự trách không nghĩ ra việc hy sinh nửa ca nước của bố cho anh. Khoai mì ít ngấm nước muối hơn. Bố sẽ hy sinh nửa phần nước để anh rửa khoai mì cho bớt mặn”. Tôi khước từ: “Bố (trong tù chúng tôi đều gọi tất cả các tu sĩ của các đạo giáo là bố hết) lớn tuổi sức chịu đựng yếu rồi, nhịn khát như con không được đâu”. Ông cười: “Sao biết không được, đã thử đâu mà biết không được”. Tôi chọc ngài cho bớt căng thẳng: “Thế bố đã thử chưa mà khi đi giảng đạo có lúc bố nói về hạnh phúc lứa đôi”. Cả hai chúng tôi đều cười vang. Cha Vàng nói: “Ê này, để bố nói cho anh nghe chuyện này. Bố dù là linh mục thì cũng là người, con tim cũng rung động như mọi người khác, nhiều lúc bố cũng muốn thử. Những lúc như thế mình phải tranh đấu với chính bản thân mình ghê lắm để đừng vượt rào đi ăn tình. Ðiều này cũng cần can đảm mới làm được. Tín đồ kính trọng người tu hành là kính trong sự can đảm ấy, kính trọng sự vượt qua để phụng sự, chứ nếu giống như thường tình thì nói gì nữa”.

Vâng thưa quý vị, giải pháp của Cha Vàng đã khiến cho một tuần, hai tuần, ba tuần qua đi nhanh và vô hiệu hóa được sự trừng phạt. Vào tuần lễ thứ tư của cuộc trừng phạt, như một phép lạ, viên cán bộ phát cơm nhà kỷ luật không phải là tên trực trại như thường lệ mà là một anh chàng lạ hoắc. Tù nhân mang cơm cho nhà kỷ luật cũng không phải là Hùng đen mà là Tuấn “sún” ở đội tù hình sự. Thông thường, khi vào phát khẩu phần cho nhà kỷ luật, viên cán bộ trực trại thường mở xà lim có tù nhân “bị gởi” (tù nhân bị ăn chế độ trừng phạt) trước. Nhưng lần này thấy các xà lim được lần lượt mở từ 1 cho đến 9 (số hên?) Xà lim 10 không có “khách”.

Ðến xà lim số 6, cha Vàng đưa hai chiếc bát nhựa và hai ca đựng nước ra trong khi viên cán bộ đích thân mở khóa tay cho tôi. Viên cán bộ này mặc đồ công an không lon lá gì cả nên không biết cấp bậc anh ta. Phát khoai xong, thấy Tuấn “sún” múc một vá nước muối, viên cán bộ nói ngay: “Ít muối thôi, chan đẫm vào, làm sao người ta ăn được”. Ðến phần nước, khi thấy Tuấn “sún” múc đầy cả hai ca, tôi hiểu rằng hôm đó tên cán bộ trực trại có việc gì đó không mở trại kỷ luật được, nên nhờ bạn thay thế. Vì làm thế nên anh chàng này không còn nhớ hoặc không thèm nhớ là trong trại có tù nhân phải ăn khẩu phần dành cho chế độ trừng phạt. Phát xà lim số 9 xong, lại thấy có tiếng chìa khóa mở cửa xà lim số 6 của tôi. Tôi đinh ninh rằng họ quay lại để lấy bớt phần nước nên tôi vội vàng cầm ca nước uống hết. Nhưng không, Tuấn “sún” xách thùng nước đứng ở cửa phòng hỏi: “Có gì đựng thêm nước không”. Tôi nói: “Có” và đưa ca nước ra. Tuấn “sún” đổ đầy hai ca nước, rồi lại hỏi: “Còn đồ đựng nước khác không?” Cả hai chúng tôi lắc đầu. Viên cán bộ xen vào: “Ðổ vào thau cơm cho họ, chiều hay mai lấy ra”.
Hình phạt dành cho tôi chấm dứt vào đầu tháng 11. Tôi đoán hết lý do này đến lý do khán khiến chúng chấm dứt sự trừng phạt đối với tôi. Nhưng cha Vàng nhận định: “Nếu cần phải giết chúng ta, chúng đã tùng xẻo mình ngay từ lúc đầu. Ðoán làm gì cho mệt...”

Cuối tháng 11, cả hai chúng tôi đều được mở cùm cho ra đi tắm
, lần đầu tiên sau 3 năm biệt giam. Khi được mở cùm, tôi đứng lên không nổi vì hai chân dường như cứng lại. Cha Vàng cũng nằm trong tình trạng ấy, nhưng ngài mới bị biệt giam hơn một năm nên còn lết được. Chúng tôi bám lấy nhau theo hướng dẫn của trật tự đi ra ngoài giếng được đào bên cạnh một ao cá ngay sau nhà kỷ luật. Thời tiết tháng 11 ở vùng tiền sơn Tuy Hòa đã lạnh lắm rồi. Tôi còn có được một cái áo lạnh tự may bằng cách phá một chiếc chăn len của một bạn tù cho từ năm 1980. Khi được cho chiếc chăn len này, tôi nghĩ ngay đến chuyện may thành chiếc áo giống như áo trấn thủ. Trò may vá trong các trại tù cũng là một thú tiêu khiển và giết thời giờ. Chúng dùng những cộng sắt để làm kim và chỉ thì bằng những sợi rút ra từ những chiếc áo hay quần may bằng bao cát. Chính ở những trò may vá này, chúng tôi học được một bài học: Cùng thì tắc biến. Trước những trò đàn áp, những mưu chước thô bạo quản thúc con người trong các nhà tù cộng sản, vẫn có rất nhiều người vượt qua được cơn khốn khó do bản năng sống còn của họ rất mạnh. Cứ thử nghĩ một người nếu ăn bất cứ con vật gì mà họ bắt được kể cả rít núi, cỏ kiểng, ăn sống cả loại khoai mì H-34 có nhiều chất độc trên đất Hoa Kỳ này, thì chỉ có nước vào nhà thương sớm. Nhưng thời gian dưới các nhà tù Cộng Sản bệnh không có thuốc, ăn bậy bạ mà các tù nhân cải tạo ít bị hề hấn gì. Tôi nghĩ một cách chủ quan rằng chỉ có phép lạ hay bản năng tự tồn của người khi bị đẩy vào cùng quẫn mạnh, mới giúp cho một người tù sống được và có ngày trở về. Một số bạn tù của tôi sau này hay nói đến chuyện sống vì tinh thần, lúc đầu tôi chỉ coi là chuyện vui, nhưng ngẫm nghĩ lại thấy cũng có phần chí lý. Khi một người tù chấp nhận phần xấu nhất về mình, sẽ bất chấp những đòn thù. Vì một người biết chấp nhận phần xấu nhất về mình trong hoàn cảnh lưu đầy, sẽ chẳng còn gì phải suy nghĩ về hiện tại lẫn tương lai, ngày về. Lúc đó nếu Việt cộng có bắn mình một viên vào ngực, có lẽ điều đó được coi là ân huệ hơn là kéo dài cuộc sống của những người tù theo cách nửa sống, nửa chết như thế. Cho nên, người cộng sản có thể tính được nhiều trò đàn áp, hành hạ con người, nhưng không tính được điều liên quan đến bản năng và tinh thần của con người.

Khi chúng tôi ra đến bờ giếng là muốn trở lại ngay xà lim. Còn tắm táp gì trong điều kiện thời tiết này. Thấy Cha Vàng run lên bần bật vì gió lạnh. Ngài lại chỉ mặc một chiếc áo len mỏng bên trong bộ đồ tù, nên tôi cởi chiếc áo trấn thủ và nói: “Bố đưa chiếc áo len con, bố mặc chiếc áo của con vào ngay. Bố phong phanh thế, cảm lạnh bây giờ. Bố nhớ rằng ở đây không có thuốc, mặc chiếc áo này của con đi, bố đưa áo len cho con”. Ông nhất định không chịu, nhưng cuối cùng tôi vẫn lột chiếc áo len của cha Vàng ra và mặc chiếc áo trấn thủ mang bằng chăn len hai lớp của tôi, tôi mặc chiếc áo len của ông. Dĩ nhiên chúng tôi chẳng tắm táp gì được cả, ngồi núp vào bức tường che giếng nước để tránh gió. Cha Vàng ít run rẩy hơn. Ngài đứng dậy và vung tay cử động. Tôi làm theo ngài. Tôi có cảm tưởng cứ mỗi lần vung tay cử động theo kiểu Dịch Cân Kinh thì chúng tôi choáng váng có thể chúi về trước, nhưng đồng thời cũng cảm thấy bớt lạnh. Viên cán bộ trực trại dặn chúng tôi: “Các anh tắm thì tắm, không muốn thì thôi. Nếu không thì ngồi đây phơi nắng (ở Xuân Phước, mùa Ðông thường không thấy mặt trời). Cấm không được liên hệ với ai”. Nói xong, anh ta bỏ đi.

Nói thì nói vậy, nhưng các anh em trong nhà bếp đều là anh em sĩ quan cải tạo, nên cũng tìm cách tiếp tế cho chúng tôi vài miếng cơm cháy, mấy tán đường. L.S, một người Việt gốc hoa, một tỷ phú, vua máy cày trước 30-4-1975 bị đẩy lên trại này sau khi lãnh cái án 20 năm tù sau đợt đánh tư sản mại bản lần thứ nhất, đang được cắt cử coi vườn rau cải. Ông ta từ vườn rau đi khơi khơi, không lén lút gì, đến thẳng chỗ chúng tôi, đưa một gói bánh trong đó có ít bánh bisquit lạt và ít đường tán, và thiết thực hơn là khoảng 10 viên thuốc B1. L.S nói: “Ngộ biếu, bánh đường ăn hết ở ngoài này đi, đừng mang vào chúng nó sẽ tịch thu. Thuốc B1 cần cho các nị lắm á. Cứ ăn từ từ, đừng có lo, nhà nước ‘no’ hết ”. Xong ông ta bỏ đi.

Nhóm người Việt gốc Hoa sống trong trại rất đầy đủ, nhưng đối với chúng tôi, lúc nào họ cũng cư xử đàng hoàng. Những tin tức từ bên ngoài được đem vào trại của họ khá chính xác. A-20 là trại trừng giới nhưng quà thăm nuôi hàng tháng của họ chất đầy chỗ nằm. Mỗi lần thăm gặp họ ở với gia đình cả ngày ở ngoài nhà thăm nuôi cũng được, nếu họ muốn. Nhưng ít khi nào họ hành động như vậy. Môi trường ở A-20 là môi trường tế nhị. Những doanh nhân này đầu óc rất thực tế: Có tiền mua tiên cũng được huống chi đám cán bộ trại giam vốn cũng đói rách. Cái giá của việc khơi khơi đến tiếp tế cho chúng tôi ít ra cũng phải trả bằng 6 tháng biệt giam, nếu bị bắt gặp. Nhưng 6 tháng biệt giam chỉ tương đương với 2 cặp lạp xưởng. Ông là người tù duy nhất ở trong trại có thể trả cái giá ấy bằng lạp xưởng hay nửa bao thuốc lá ba số 5 thay vì vào biệt giam. LS biết chắc rằng buổi tối hôm ấy, tên trật tự (bị án chung thân vì tội cướp có súng) sẽ xuống gọi LS ra cửa sổ buồng giam và xin hai ặp lạp xưởng cho cán bộ nấu xôi. Cho nên, LS đi đâu một lúc rồi ông ta trở lại với cái điếu cày, diêm và nói: “Thuốc nào này say lắm, cẩn thận. Ðừng mang diêm vào biệt giam”. Hút xong thuốc lào, chờ cơn “phê” nhạt dần, tôi chợt nẩy ra ý kiến: “Bố ơi mình giấu 2 bi (tiếng lóng của hai điếu) để đêm Noel hút”. Tôi quận nhúm thuốc còn lại cho thật nhỏ vào bao nhựa đựng 10 viên B1 và nhét vào gấu quần. Cái gấu quần là chỗ hôi thối của những người tù 3 năm không được tắm, chắc không có ai muốn sờ đến nên có thể an toàn. Biệt giam là nơi cấm hết mọi thứ kể cả thuốc hút nên chúng tôi phải hành động như vậy. Và quả thật, trước khi mang chúng tôi vào lại xà lim, trật tự Hùng đen chỉ khám sơ sơ. Tôi và Cha Vàng đã thắng.

Nhưng vào đến xà lim, sau khi xỏ chân vào cùm, nghĩ lại tôi mới thấy thất vọng: lửa ở đâu mà hút. Thảo luận mãi, Cha Vàng đưa ý kiến, lấy lửa bằng phương pháp của thời kỳ đồ đá. Tôi lại chọc vị tu sĩ Công giáo rất hùng biện này: “Bố con mình đang ở thời kỳ đất sét mà bố nghĩ đến phương pháp của thời kỳ đồ đá”. Cha Vàng cười: “Mày chỉ tầm xàm. Ðứng đắn đấy. Ðêm Noel mình sẽ hút thuốc lào, bố cáo cách rồi”. Sau đó cha Vàng giảng giải cho tôi cách lấy lửa “thời kỳ đồ đá”. Vị tu sĩ nói như giảng đạo: “Này nhé, con có biết rằng nền văn minh ngày nay đến từ việc phát minh ra lửa. Lửa chế ngự đồi sống con người khi họ thoát ra thời kỳ ăn lông ở lỗ... Con người thời kỳ đồ đá đã biết dùng đá chọi vào nhau cho đến khi xẹt lửa. Những tia lửa đó rớt xuống đám lá khô dễ bắt lửa và họ thổi cháy thành ngọn lửa”. Chà Vàng nói: “chỉ cần một thanh vỏ tre và áo mục”. Tôi hỏi Cha Vàng: “áo mục thì có sẵn, nhưng thanh vỏ tre?” Cha Vàng cười: “Bố giao nhiệm vụ cho mày nếu bị kêu đi thẩm cung, thế nào trước Noel chúng cũng gọi chúng ta ra tra vấn và khám xà lim, một biện pháp an ninh trước những ngày lễ trọng...” Do kinh nghiệm, cha Vàng nói đúng. Năm ngày trước Noel, trời có nắng, những tia nắng hiếm hoi xuyên qua cửa tò vò vào phòng giam. Ngài vội lấy chiếc áo tù bằng vải thô vá chằng vá đụp, xé hai mảnh nhỏ. Ngài nói: “Ðây là cái áo bố đã giặt rất sạch trước khi vào đây, để làm con cúi lấy lửa khi cần. Xé nó ra phơi cho thật khô. Cuộn lại cho chặt thành một cuộn bằng ngón tay cái. Dùng móng tay đánh tơi một đầu, đánh thật tơi cho đến khi sợi vải ở đầu con cúi xuất hiện một lớp bông. Dùng miếng vỏ tre thật mỏng luồn nó vào cái khe hẹp để gắn quai dép lốp rồi kéo cho đến khi thanh tre nóng bỏng. Hơi nóng của bột tre dính trên mặt bông của con cúi, lửa sẽ ngún và thổi nhè nhẹ vết lửa sẽ loang ra, chỉ cần thổi nhẹ là lửa sẽ bật lên”.

Nghe Cha Vàng nói tôi tưởng là ngài nói chuyện thần thoại. Nhưng do vẫn nghĩ đến phép lạ, nên tôi nghe theo lời ngài. Tôi nghĩ đây là một trò vui và cũng là dịp tự thử thách mình. Ðúng như dự đoán, trước Noel 1984 ba ngày, lần lượt chúng tôi bị kêu ra ngoài thẩm cung và xà lim bị khám xét rất kỹ. Nhưng họ vẫn không phát giác ra được mấy điếu thuốc lào và thuốc B1 tôi giấu trong lai quần. Có lẽ do người hôi thối quá nên, anh cán bộ nào cũng sợ mó vào quần áo tôi. Chỉ còn thanh tre mỏng. Tôi nghĩ ra một kế nên báo cáo cán bộ cho xin một thanh tre mỏng mang vào xà lim để làm dồ cạo lưỡi. Viên cán bộ hỏi tôi: “Lưỡi anh làm sao?” Tôi nói: “Ðóng bợn ba năm rồi không được cạo, nên xin cán bộ”. Anh ta không nghi ngờ gì cả nên gật đầu: “Nhưng tre ở đâu ra?” Tôi nói ngay: “Ở nhà bếp chắc có”. Anh cán bộ gọi trật tự Hùng đen: “Xuống nhà bếp bảo họ cho tôi một vỏ tre cạo lưỡi cho anh này”. Tôi lại gặp may lần nữa. Mấy anh em nhà bếp tưởng làm cây cạo lưỡi cho cán bộ nên họ làm rất kỹ và tôi có một thanh cạo lưỡi bằng vỏ tre khô dài khoảng 2 gang tay.

Sau khi trở lại xà lim, tôi bắt đầu thực tập ngay. Tháo một quai dép lốp ra, tôi luồn thanh tre vào và dùng hai tay kéo cưa. Thấy nóng thật, tôi ra sức kéo mạnh. Cha Vàng vội can: “Kéo từ, thở ra hít vào đều, ít ra cũng một tiếng đồng hồ”. Tôi lại chọc cha Vàng: “Bố ơi, mình dang ở thời kỳ đồ đất mà kéo như thế này, chắc phải ăn 5 phần khoai mì may ra mới bù lại được. Ðồ đất dễ vỡ lắm!” Vị linh mục cười hiền lành: “Thôi dừng có nói nữa, anh nói nhiều xì hơi còn sức đâu mà kéo”.Trong khi tôi đánh vật với chiếc dép và thanh tre, thì Cha Vàng móc trong tay nải lấy hai miếng vải đã phơi khô ra và làm thành một con cúi. Ông chà một đầu con cúi xuống sàn rồi lấy móng tay út lúc đó đã dài như móng tay của mấy bà người Tàu bó chân, khẩy khẩy cả tiếng đồng hồ vào những thớ vải lúc đó đã hơi bung ra. Ðến khi thấy mệt, mồ hôi ra như tắm, tôi nói với Cha Vàng: “Con chịu thua rồi bố ơi, mệt quá”. Cha Vàng khuyến khích: “Ðừng ngừng, tiếp tục để bố thử coi”. Tôi tiếp tục kéo. Bột tre đã văng ra có thể nhìn thấy trên sàn. Khi Cha Vàng lựa thế đưa cúi vào thì tôi gia tăng tốc độ. Cha Vàng reo lên: “Hơi ngún rồi tại, chưa bén than vì anh kéo chưa đủ đô”. Quả thật tôi cũng thấy một chút khói bốc lên.

Ngày hôm sau, chúng tôi lại thử, một cuộc chạy đua tiếp sức của hai người. Ðể con cúi vải xuống sàn, tôi và Cha Vàng thay phiên nhau kéo, từ 9 giờ sáng cho đến hơn 11 giờ thì “phép lạ” đã đến. Ðầu con cúi bắt đầu ngún và có khói, có nghĩa là bột tre nóng quá độ đã khiến cho lớp bông nhẹ trên con cúi bén lửa. Một lát sau khi thấy xuất hiện những đốm hồng, Cha Vàng thổi nhẹ nhẹ, vết lửa lan ra, trang sử của mấy ngàn năm trước được lật lại. Cha Vàng tiếp tục thổi nhẹ để nuôi dưỡng ngọn lửa. Và khi đã ngủi thấy mùi khét của vải, ngài thổi hơi mạnh. Ngọn than hồng lan rộng ra hơn và cuối cùng chỉ cần một hơi nhẹ, ngọn lửa bùng lên. Vị tu sĩ nhìn con cúi vải có than hồng giống như một điếu thuốc lá mới được đốt lên, rồi cười vang: “Mình thắng”. Ngài lục trong tay nải một miếng giấy châm vào cúi vải, ngọn lửa lan sang đóm giấy. Xong, cha nắm chặt tay tôi giơ lên cao như một võ sĩ được trọng tài nắm tay giơ cao sau khi đấm địch thủ do ván.

Chúng tôi ngồi nghỉ một lát, sau đó Cha Vàng nói: “Chúng ta đã học xong bài học lúc bố đã ngoài 50, còn con đã 33 tuổi. Nhưng tự bố, bố thấy chúng ta xứng đáng với bài học ấy. Ðó là kiên trì đạt mục tiêu trong hoàn cảnh khó khăn nhất”. Ðúng vào tối 24-12-1984, trước khi Cha Vàng cử hành thánh lễ nửa đêm trong xà lim số 6, chúng tôi đã hút mỗi người một điếu thuốc lào. Hút bằng một miếng giấy cuộn tròn như loa kèn và ngậm nước. Hút như thế, miệng mình chính là cái điếu, và cũng có tiếng kêu, cũng chếnh choáng say như khi hút bằng điếu cày. Chỉ có điều khác với hút thuốc lào bằng điếu cày: Sau khi hút phải nhổ nước đi. Trong hoàn cảnh tôi và Cha Vàng lúc đó thì hơi tiếc vì chúng tôi thiếu nước uống kinh niên.

Kể từ ngày sống cùng một xà lim với Cha Nguyễn Văn Vàng, tôi học được nhiều điều. Trong suốt thời gian này, ngài giảng cho tôi bộ Tân Ước. Dù tôi là một Phật tử, nhưng nghe một nhà truyền đạo Công giáo chuyên môn giảng kinh, nên bộ Tân Ước đã củng cố những lập luận sau này của tôi rất nhiều. Quan trọng hơn hết, đó chính là kỷ niệm với một tu sĩ mà tôi kính trọng.

Tháng 4-1985, Cha Vàng lâm bệnh vào lúc sức khỏe của ngài đã quá yếu. Có lẽ ngài đã kiệt sức, sốt cao rồi đi vào hôn mê. Tôi đập cửa kêu cấp cứu suốt ngày, nhưng lúc tên trực trại chịu mở cửa để cho một y sĩ vào khám bệnh, thì mọi việc có vẻ quá muộn. Hai viên trụ sinh không đủ khả năng làm Cha Vàng tỉnh lại. Vào đúng lúc cả hai chúng tôi đều cảm nhận được mùa Giáng Sinh đã trở lại thung lũng Xuân Phước qua tiếng chuông của một nhà thờ dường như ở cách chúng tôi xa lắm vọng về trong đêm lạnh giá và u tịch. Linh Mục Nguyễn Văn Vàng qua đời ngay trong xà lim số 6. Trước đó, dù yếu và bệnh, ngài đã bàn với tôi là làm sao có được bánh thánh lúc ngài làm lễ nửa đêm trong Noel 1985 mà con chiên duy nhất trước ngài lúc đó lại là một Phật tử như tôi. Nhưng mơ ước của Ngài không thành, kể cả việc lớn trước đó là lập lực lượng võ trang để mong lật ngược lại tình thế của một đất nước vừa chìm đắm trong luồng sóng đỏ. Nhưng dù ngài đã mất đi, trong suy nghĩ của tôi cho đến bây giờ, Linh Mục Nguyễn Văn Vàng vẫn là một ngọn lửa, âm thầm cháy như con cúi vải ngày nào bỗng bùng lên soi sáng cái không gian tăm tối của tất cả những xà lim đang hiện diện trên đất nước Việt Nam.

Sunday, May 27, 2007

Việt Hoàng: Ðảng cộng sản VN là một tổ chức khủng bố?


Việt Hoàng
Nguồn: www.thongluan.org

"...Nhà nước Việt Nam lúc nào cũng hô hào là xây dựng nhà nước pháp quyền thế nhưng trong thực tế thì hoàn toàn khác..."

Có lẽ sẽ có nhiều người "ngạc nhiên" khi thấy người viết đưa ra một câu hỏi như vậy? Thật ra nhận định này đã được một nhà chính trị gia xuất sắc của người Việt tại Hải ngoại nói đến từ lâu rồi, đó là ông Nguyễn Gia Kiểng. Ngay cả bản thân tôi, khi lần đầu tiên đọc bài viết đó của ông Nguyễn Gia Kiểng cũng lấy làm ngạc nhiên. Tại sao ông lại gán cho cộng sản một cái tội ghê gớm như vậy?

Tin vào sự uyên bác của ông Nguyễn Gia Kiểng và tự chiêm nghiệm những gì đã xảy ra trong các nước cộng sản, đặc biệt là xung quanh các vụ bắt bớ, giam giữ các nhà dân chủ trong nước mới đây như Anh Nguyễn Khắc Toàn, anh Phương Nam-Ðỗ Nam Hải... thì tôi tin rằng nhận định này là hoàn toàn có cơ sở !

Trước hết, thế nào là một tổ chức khủng bố? Theo tôi một tổ chức khủng bố là "tổ chức luôn dùng bạo lực (bắt bớ, giam cầm, tra tấn, đánh đập, phá hoại, ám sát, thủ tiêu...) để đạt được mục đích, đồng thời tổ chức khủng bố tuyên truyền, bắt ép các thành viên của mình phải tin tưởng một cách mù quáng vào một chủ nghĩa hay một lãnh tụ của tổ chức đó".

Tuy nhiên, tổ chức khủng bố cũng có hai loại, một là các tổ chức khủng bố quốc tế (mà Al Qaeda là điển hình), hai là các tổ chức khủng bố quốc nội, tức là chỉ khủng bố nhân dân của mình (mà các chế độ cộng sản là điển hình).

Không riêng gì đảng cộng sản Việt Nam mà tất cả các đảng cộng sản cầm quyền từ trước đến nay đều là khủng bố (chỉ có các đảng cộng sản cầm quyền mới có điều kiện để khủng bố, các đảng cộng sản trong các nước tư bản không nằm trong diện này).

Nhìn lại quá khứ, từ ngày thành lập đảng đến nay, trải qua hai cuộc chiến tranh với Pháp và Mỹ thì các hành động bắt cóc, ám sát, thủ tiêu, đánh bom liều chết (cảm tử)... đã được đảng cộng sản áp dụng một cách triệt để. Chúng ta tạm thời đồng ý với lập luận của đảng cộng sản Việt Nam là trong chiến tranh, kẻ địch mạnh hơn rất nhiều lần nên phải "chơi" kiểu du kích. Thế nhưng hòa bình đã lập lại 30 năm rồi mà vẫn xài mấy bài đó thì quả là hết đường biện hộ.

Từ thời Lênin sau đó là Stalin, đảng cộng sản Liên Xô đã khủng bố nhân dân mình rất dã man. Số người chết dưới bàn tay đẫm máu của Stalin thậm chí còn nhiều hơn số người chết trong cuộc chiến tranh chống Phát xít Ðức. Ngay cả Trôtski, nhân vật chỉ đứng sau Stalin, do bất đồng quan điểm, dù đã chạy trốn sang tận Mêhicô mà vẫn bị Stalin cho người ám sát. Mao Trạch Ðông, tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc cũng cực đoan không kém khi cho rằng "kẻ nào không theo ta tức là địch". Mao không chấp nhận trung lập, tất cả những ai không theo cộng sản là đều có thể bị sát hại bất cứ lúc nào. Mao Trạch Ðông đã tiêu diệt hàng chục triệu con dân của mình, đặc biệt hơn cả là tiêu diệt cả những người từng là thầy mình như trường hợp của Chủ tịch nước Trung Hoa lúc đó : Lưu Thiếu Kỳ. Ðến Pônpốt, tổng bí thư của đảng Khơme đỏ thì còn xuất sắc hơn khi "xóa sổ" một phần ba dân số của mình.

Ðảng Cộng Sản Việt Nam, có lẽ cũng không ngoại lệ. Sau khi giành được chính quyền và thành lập Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thì đảng cộng sản đã ra tay tiêu diệt tất cả các đảng phái khác như Việt Nam Quốc Dân Ðảng của Nguyễn Thái Học... Dù rằng các đảng phái này cũng yêu nước và góp phần vào công cuộc đánh đuổi Thực dân Pháp dành độc lập cho dân tộc. Các lãnh tụ của các đảng phái không cộng sản nếu không chạy kịp thì đều bị Việt minh sát hại. Sau đó các trí thức yêu nước ở Nam Bộ không cộng sản cũng chung một số phận (như các ông Tạ Thu Thâu, Hồ Văn Ngà, Lê Bá Cang, Diệp Văn Kỳ...).

Trong đợt Cải cách ruộng đất, đã có rất nhiều người bị giết hại một cách oan uổng cho dù rằng họ không có tội, thậm chí có công với cộng sản.

Họ bị gán cho đủ các tội như phản động, việt gian, tay sai... mà không hề đưa ra được bằng chứng cụ thể hay cho nạn nhân được thanh minh. Khi thấy dân chúng oán thán thì đảng đẩy tướng Giáp ra xin lỗi và nhận trách nhiệm trước nhân dân rồi phủi tay.

Cũng giống như Mao, đảng cộng sản Việt Nam không tha bất cứ ai, nếu người đó không ủng hộ họ. Thậm chí với cả những người từng là công thần của chế độ. Ông Hoàng Văn Hoan, một trong tứ trụ triều đình của đảng cộng sản Việt Nam trước đây cũng phải trốn sang Trung Quốc vì sợ Lê Duẩn sát hại. Ông Võ Nguyên Giáp, một vị Tướng có công rất lớn với chế độ cũng bị trừng phạt, chuyển từ Bộ quốc phòng sang phụ trách sinh đẻ. Tôi tin rằng ông Giáp chẳng có tội gì cả vì cho đến tận bây giờ ông vẫn ca ngợi và tôn thờ Bác với Ðảng. Tướng Trần Ðộ, một anh hùng dân tộc đã đứng lên vạch rõ những sai lầm của đảng cũng bị trả thù một cách hèn hạ, thậm chí khi ông đã mất.

Những chuyện vừa nói trên có lẽ đã cũ, nhiều người không biết. Nhưng những gì đang xảy ra ngay trong những ngày sắp đại hội X này cũng làm nhiều người, dù có "tin tưởng" đến mấy vào đảng cũng phân vân, không biết nên gọi là gì ?

Các nhà dân chủ, chúng ta quen gọi những người yêu nước hôm nay, đang bị đối xử như thế nào? Bác sĩ Phạm Hồng Sơn chỉ vì dịch một tài liệu "thế nào là dân chủ ?" đã bị tù 5 năm, Nhà báo Nguyễn Vũ Bình chỉ vì viết đơn xin thành lập đảng Tự Do-Dân chủ cũng bị 7 năm tù... Thế này là thế nào ? Dù rằng Hiếp pháp của Ðảng Cộng Sản Việt Nam có ghi rõ là công dân có quyền tự do ngôn luận, có quyền thành lập Hội...


lãnh đạo chính trị hay mafia?

Mới đây nhất là việc anh Nguyễn Khắc Toàn bị công an Hà Nội ập vào bắt tại một quán càphê internet, nhiều công an đã lao vào đánh đập anh vào mặt, bụng, tay chân, mặc dù rằng anh không hề chống cự. Chính anh đã trả lời một cách rõ ràng và đầy đủ trên đài Á Châu Tự Do về sự kiện này. Hay cách đây mấy hôm anh Phương Nam-Ðỗ Nam Hải đang ăn sáng tại một quán cà phê tại Sài Gòn thì cũng bị một toán công an ập vào dùng vũ lực bắt đi và cũng có mấy tên công an xông vào vặn tay anh, đánh vào mặt, bụng... anh. Tất cả những hành động này nếu không gọi là khủng bố thì nên gọi bằng gì cho đúng với bản chất đây ? Sự kiện này đã làm xúc động tất cả những người Việt có lương tâm trong và ngoài nước cũng như dư luận quốc tế. Dù rằng trong các cuộc trả lời phỏng vấn, các nhà dân chủ luôn khẳng định rằng họ, trong khi "làm việc" với chính quyền luôn được các sĩ quan an ninh đối xử nhẹ nhàng, lịch sự, nhưng những hành động côn đồ của mấy tên "lính lác" đã phủ nhận hoàn toàn sự trọng thị giả tạo này.

Nhân đây tôi cũng xin được tâm sự với các "đồng chí công an", cấp trên của những tên côn đồ này rằng, những người yêu nước không bao giờ sợ chết, việc họ làm là vì dân, vì nước (nếu họ thành công, mai đây đất nước Việt Nam giàu mạnh thì chính con cháu của các "đồng chí" cũng được hưởng hạnh phúc đấy). Chính tình yêu nước, thương dân đã thôi thúc họ vượt lên tất cả. Nếu sợ thì họ đã không làm những việc như vậy. Tất cả những người hoạt động chính trị đều được cộng đồng thế giới tôn trọng, vì tất cả những gì họ làm đều vì sự hưng thịnh của cả một quốc gia chứ không cho riêng gì họ cả. Khi các nhà hoạt động chính trị bị đàn áp hay truy đuổi thì tất cả các nước văn minh trên thế giới đều sẵn sàng chấp nhận cho họ tị nạn, trong khi đó nếu vì lý do kinh tế (nghèo đói) thì không một nước nào chấp nhận cho tị nạn cả. Nhà báo Bùi Tín đã được cấp hộ chiếu của Liên Hợp Quốc, có nghĩa là ông có thể đi đến bất cứ một nước nào mà không cần đến vida (tất nhiên là trừ Việt Nam).

Lý tưởng dân chủ ngày nay cũng giống như lý tưởng chống thực dân Pháp ngày xưa, đó là "quyết tử cho tổ quốc quyết sinh. Tất cả các nhà dân chủ đều biết là có thể họ sẽ bị bắt bớ, tù đày, ám sát, gia đình bị sách nhiễu, đe dọa... nhưng họ không bao giờ chùn bước. Ðộng lực nào khiến họ trở nên can đảm như vậy ? Ðó là một tương lai tốt đẹp cho đất nước Việt Nam, rằng nhân dân Việt Nam sẽ được sống trong tự do và nhân phẩm như bao dân tộc khác trên thế giới.

Thế kỷ 21 là thế kỷ của hợp tác, của toàn cầu hóa, thế kỷ của đối thoại chứ không phải đối đầu. Cũng thừa nhận một điều rằng đảng cộng sản Việt Nam dù côn đồ với nhân dân mình nhưng không dám (hay không thể) kiêu ngạo với cộng đồng thế giới. Họ khôn ngoan (hay xảo quyệt) hơn Bắc Triều Tiên, Cuba nhiều. Cũng nhờ đó mà Việt Nam không nằm trong danh sách các nước độc tài nhất trên thế giới, chúng ta hình dung như thế này cho rõ : Ðảng Cộng Sản Việt Nam như một ông bố rất hung hãn và độc ác với con cái của mình, chỉ cần đứa nào không bằng lòng dù chỉ là trong lời nói thôi là đã bị ông bố đóng cửa lại dần cho "lên bờ xuống ruộng", thế nhưng đánh xong khi ra đường hàng xóm có hỏi sao ông lại đánh con ông vậy thì ông bố chối bay chối biến : Các bác cứ nghe chúng nó nói bậy chứ tôi là thương cháu nhất, có bao giờ la mắng nó đâu... Việt Nam không Chí Phèo như Bắc Triều Tiên hay Iran "Con tao thích tao đánh, thích thịt tao thịt, chúng mày nói lắm ông đánh luôn cả chúng mày, ông có dao trong nhà đấy nhé, liệu thần hồn".

Ðảng Cộng Sản Việt Nam thật đúng như câu thành ngữ cha ông mình đã nói "khôn nhà dại chợ". Với con dân của mình thì coi như cỏ rác, với người ngoài thì xun xoe, nịnh bợ. Chính điều này khiến cho nhiều nhà trí thức cảm thấy xúc phạm khi họ nói điều hay lẽ thật thì không nghe, nhưng cứ thằng Tây nào bảo cái gì là vâng vâng dạ dạ rối rít. Cứ thế này mãi thì bao giờ người Việt mình mới ngẩng đầu lên được?


bọn tham nhũng thuê côn đồ hành hung nhà báo


Một sự kiện nữa cũng khiến cho dư luận trong nước xôn xao và tức giận là việc các quan chức tham nhũng của PMU18 có quan hệ với xã hội đen, bọn này đã tấn công các phóng viên khi họ đến đưa tin và tác nghiệp tại hiện trường. Thật là một xã hội hỗn loạn hết chỗ nói. Nếu không đọc báo trong nước mà chỉ nghe kể thôi thì không ai tin và cho rằng đó là sản phẩm trong phim xã hội đen Hông Kông. Thứ trưởng thường trực Bộ giao thông vận tải Nguyễn Việt Tiến (nhân vật số 2 sau bộ trưởng Ðào Ðình Bình) đang bị cơ quan điều tra thẩm vấn về hai vụ dùng xã hội đen thanh toán các đối thủ. Cựu trưởng phòng kỹ thuật PMU18 đã bị bọn xã hội đen chém trọng thương vì không chịu ký vào biên bản nghiệm thu chất lượng công trình (do không đạt tiêu chuẩn). Các phóng viên bị bọn côn đồ tấn công này (của báo Thanh Niên, Pháp Luật...) đều là người của đảng, ăn lương của đảng, làm việc cho đảng mà vẫn bị xã hội đen tấn công thì ai sẽ bảo vệ họ ? Hay đảng và xã hội đen quyền lực và quyền lợi như nhau ? Chả trách cụ Hoàng Minh Chính bị bọn xã hội đen (đội lốt nhân dân) đến tấn công, đập phá tư gia.

Như đã nói, xã hội văn minh và dân chủ là mọi người đều được nhà nước tôn trọng và bảo vệ. Mọi bất đồng đều phải giải quyết thông qua đối thoại, đàm phán. Tôn trọng các ý kiến khác nhau các tầng lớp nhân dân. Một công dân khi có tội thì phải được đưa ra xét xử một cách công bằng theo đúng pháp luật. Công an hay bất cứ một người nào đều không có quyền tấn công một người khác. Một đất nước mà pháp luật không được tôn trọng thì nhà nước đó không sớm thì muộn ắt phải sụp đổ.

Nhà nước Việt Nam lúc nào cũng hô hào là xây dựng nhà nước pháp quyền thế nhưng trong thực tế thì hoàn toàn khác. Người dân Việt Nam không phải không biết gì. Vấn đề là họ chịu đựng được bao nhiêu lâu nữa thôi.

Kết thúc bài viết này người viết tôn trọng chính kiến của độc giả nên không đưa ra kết luận là "Ðảng Cộng Sản Việt Nam có phải là một tổ chức khủng bố hay không?". Xin mỗi người hãy tìm lấy câu trả lời cho chính mình./.

đảng Việt gian CSVN & Hồ Chí Minh



Tai hoạ lớn nhất cho nhân dân VN !
Kẻ thù lớn nhất của dân tộc VN !

LS. Nguyễn Văn Chức


Đêm nay, tóc bạc và xa quê hương, tôi viết tập sách nhỏ bé này, để lột mặt nạ Hồ Chí Minh và đảng CSVN của y. Đồng thời nói lên chính nghĩa đấu tranh của dân tộc Việt Nam, trước đây cũng như bây giờ.

Tôi viết tặng những thế hệ mai sau. Và tri ân thầy mẹ tôi : Phêrô Nguyễn Thiều Quang, Maria Nguyễn Thị Sinh.
Sách vở về Hồ Chí Minh có nhiều lắm. Do Việt Cộng viết. Dốt nát, bịp bợm, và làm trò hề.

Một số học giả ngoại quốc cũng viết, nhưng hầu hết viết sai, viết gian, và đầy mặc cảm.

Dưới đây là tiểu sử Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam, do tôi viết. Ngắn, và dựa trên tài liệu, sự việc.
Tôi viết tặng những thế hệ mai sau. Và tri ân thầy mẹ tôi : Phêrô Nguyễn Thiều Quang, Maria Nguyễn Thị Sinh.

Chương Một

Nguyễn Sinh Cung ; Thời Thơ Ấu & Niên Thiếu ; Đói Khổ, Thất Học
Hồ Chí Minh sinh năm nào ? Sử sách Việt Cộng viết : 1890.
Hồ Chí Minh sinh ngày nào ? Sử sách Việt Cộng viết : ngày 19/05.

Chúng ta hãy nghe :

“Tháng 05/1941, Hồ Chí Minh chủ trì Hội Nghị Trung Ương đảng CS Đông Dương lần thứ Tám. Theo quyết định của hội nghị này, thì ngày 19/05/1941 Mặt Trận Việt Minh chính thức được thành lập. Như vậy là ngày sinh và tháng sinh của Chủ Tịch Hồ Chí Minh trùng với ngày thành lập của Mặt Trận Việt Minh”. (Hồ Chí Minh, Giải Phóng Dân Tộc Và Đổi Mới. Nxb Hà Nội,1977, trang 40).



Ngày 06/03/1946, Hồ Chí Minh ký Hiệp Ước Sơ Bộ, chấp nhận cho Pháp mang quân ra đóng ở Bắc Việt.

Chủ Nhật 19/05/1946 Đô Đốc D’Argenlieu của Pháp đến Hà Nội. D’Argenlieu đã được đón rước cực kỳ long trọng. Hà Nội hôm đó tràn ngập cờ đỏ sao vàng.

Tại sao Hà Nội lại treo cờ đỏ sao vàng để đón rước giặc Pháp ? Xin thưa : Hà Nội treo cờ đỏ sao vàng không phải để đón rước giặc Pháp, mà để mừng sinh nhật của Bác. Bởi vì : trước đó hai ngày, ngày 17/05, đài phát thanh Hà Nội đã chính thức công bố ngày 19/05 là sinh nhật của Bác, đồng thời kêu gọi dân chúng hãy treo cờ trong ba ngày (từ ngày 17 đến ngày 20), để mừng sinh nhật của Bác.

Bác đây là Hồ Chí Minh.

Nói tóm lại, ngày 19/05 là ngày Hồ Chí Minh rước giặc Pháp vào Hà Nội. Và để lừa bịp dân chúng cũng như giữ thể diện cho đảng và nhà nước, Việt Cộng đã phải tuyên bố ngày 19/05 là sinh nhật của Hồ Chí Minh.

Như vậy : 19/05 là ngày sinh của Hồ chí Minh, chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Chứ không phải ngày sinh của Nguyễn Sinh Cung, con ông Nguyễn Sinh Sắc và bà Hoàng thị Loan.

Xuân Diệu đã viết bài thơ ghi nhớ ngày sinh của Hồ chí Minh :

Hôm nay Mười Chín tháng Năm
Lòng con vui sướng reo trăm tiếng cười
Lỗi lầm đã nói được vơi
Hồn như mở rộng dưới trời Chí Minh
Ngày sinh nhật Bác quang vinh
Là ngày sinh nhật hồn xanh muôn người
*
Hồ Chí Minh sinh tại đâu ?


Về điểm này, sách vở Việt Cộng đều viết : tại thôn Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, Trung Kỳ. Tố Hữu đã viết :

“Nhất vui là thôn Kim Liên
Cảnh tiên có cảnh, nguời tiên có Người”.
Người viết chữ hoa, là Hồ Chí Minh.
*
Ông bà Sắc có mấy người con ?


Thưa : có bốn nguời con. Người con cả là Nguyễn Thị Thanh, người con thứ là Nguyễn Sinh Khiêm. Nguyễn Sinh Cung (tức Hồ Chí Minh sau này) là người con thứ ba.

Còn người con thứ tư ?

Sách vở Việt Cộng viết : người con thứ tư này tên làø Nguyễn Sinh Xin.

Tại sao ông bà Sắc lại đặt tên con là Xin ? Chúng ta hãy nghe :

“... bà Hoàng Thi Loan sinh thêm người con thứ tư. Sinh trong cảnh túng quẫn, phải nhờ bà con lao động láng diềng giúp đỡ, bà Loan lấy cảnh ngộ ấy đặt tên cho con là Nguyễn Sinh Xin” (Những Người Thân Trong Gia Đình Bác Hồ, Nxb Nghệ An 1995, tr. 18).

Quyển “Việt Nam Đẹp Nhất Có Tên Bác Hồ”, (Nxb.Trẻ, 161B Lý Chính Thắng, Quận 3, Sài Gòn, tr. 21) và cả trăm sách vở Việt Cộng đều viết về đứa bé tên Xin này. Đặc biệt, quyển “Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Con Đường Cách Mạng Việt Nam” (Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội 1997), của Võ Nguyên Giáp cũng viết về đứa bé tên Xin này. Viết rằng : “Đó là nỗi khổ đau của Người phải bế em đi xin sữa” (sđd, tr. 230).

Người đây là Hồ Chí Minh.

Đứa bé tên Xin này – đứa bé mà Nguyễn Sinh Cung đã phải lê lết bế đi hàng xóm xin sữa thừa xin gạo thừa, xin cám thừa, xin cơm thừa, xin cháo thừa, xin khoai thừa, xin sắn thừa, xin ngô thừa để bú mớm – đã chết yểu.

Sự kiện nói trên xác nhận một thực tế : Hồ Chí Minh đã sinh ra trong một gia đình hạ cấp đói rách. Thực tế ấy suốt đời ám ảnh y.
Sau khi vợ chết, ông Sắc đổi tên hai người con trai thành những tên đầy hứa hẹn. Nguyễn Sinh Khiêm đổi là Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Sinh Cung đổi là Nguyễn Tất Thành.
*
Hồ Chí Minh có bao nhiêu bí danh và bút hiệu ? Sách vở VC và sách vở ngoại quốc kê khai khoảng hơn 30 bí danh và bút hiệu. Chưa kể bút hiệu Trần Dân Tiên, tác giả quyển “Những Mẩu Chuyện Về Hồ Chí Minh”, trong đó chính Hồ Chí Minh ca tụng Hồ Chí Minh.

Trần Dân Tiên nghe hao hao như Tôn Dật Tiên. Chế Lan Viên đã viết :

“Bác sinh ra làm người hiền
Dân Tiên cùng với Dật Tiên một vần”.

*
Tôi sẽ thiếu sót, nếu không nói thêm về ông Nguyễn Sinh Sắc, bố của Nguyễn sinh Cung, tức bố của Hồ Chí Minh.

Mãi cho đến năm 1990, tất cả tài liệu VC đều ca một luận điệu : thân sinh của Bác, cụ Nguyễn Sinh Sắc, là một vị quan thanh liêm của triều đình Huế. Vì chống thực dân Pháp, cụ đã treo ấn từ quan về sống với dân nghèo.

Sự thật không phải thế. Sự thật là : Nguyễn Sinh Sắc – một thư lại của Bộ Lễ – đã bị án “truyền nọc đánh trăm trượng trước công đường” vì tội ăn hối lộ. Vì biết hèn hạ lậy lục, Nguyễn Sinh Sắc đã không bị nọc đánh trăm roi, mà chỉ bị cách chức đuổi về làng.
Việt Cộng đã tìm mọi cách phi tang vụ này. Nhưng tài liệu còn đó :

“Ngày 19/05/1910, Hội Đồng Nhiếp Chánh làm xong bản án số 140. Ngày 27/08/1910, bản án mang số 140 được duyệt y, Nguyễn Sinh Sắc bị kết án nọc ra đánh 100 trượng, rồi sau đổi thành giáng cấp 4 chức và bị triệt hồi” (Trần Minh Siêu, Những Người Thân Trong Gia Đình Bác Hồ, Nxb Trẻ, 161 B Lý Chánh Thắng, quận 3, Sài Gòn, 1996, trang 41).

Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa. Vụ Nguyễn Sinh Sắc được loan truyền khắp nơi, cả Nghệ An không ai là không biết.
Riêng Nguyễn Sinh Cung, tức Hồ Chí Minh, suốt đời không quên vụ của bố, cũng như không quên cảnh nghèo đói của gia đình, với đứa em tên Xin.

Chương Hai

Đói, Phải Đi Kiếm Ăn ; Cực Khổ , Và Không Tương Lai, Nạp Đơn Xin Học Trường Thuộc Địa

Ngày 05/06/1911, Nguyễn Tất Thành (lúc đó 20 tuổi ) xin được một chân phụ bếp trên chiếc tầu buôn của hãng Chargeurs Réunis Amiral Latouche Tréville.

Theo quyển “Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Bác Hồ”, do Trần Dân Tiên (tức Hồ Chí Minh) viết ca tụng Hồ Chí Minh, thì Bác, lúc đó tên là Ba, “làm đủ mọi việc, từ rửa chén đĩa, đến nhặt rau mổ cá, chặt thịt, đến bày bàn, bưng bê các món ăn, rót rượu ...”

Và, tất cả kho tàng sử liệu Việt Cộng đều viết : “Bác đi tìm đường cứu nước”.

Sự thực không phải thế. Bác không đi tìm đường cứu nưóc, mà tìm đường cứu đói cho đời bác.

Lúc đó gia cảnh Nguyễn Tất Thành vô cùng quẫn bách. Bố thì bị đuổi việc. Nguyễn Tất Thành thì mồ côi mẹ, đói khổ và thất học. Hai mươi tuổi mà không có được cái bằng tiểu học “primaire”, cái bằng mà thời ấy nhiều học sinh VN đã có, lúc chưa đầy 12 tuổi.

Cho nên, vụ Nguyễn Tất Thành đi làm bồi trên tầu Amiral La Touche Tréville của Pháp phải được hiểu là đi tìm kế sinh nhai, đồng thời thực hiện giấc mơ mà giai cấp nghèo mạt thời đó hằng ấp ủ. Được đi Pháp, được sống ở Pháp một thời gian, rồi về nước, biết nói tiếng Tây, dù là tiếng Tây bồi. Cái gì, chứ kiếm một chân thông ngôn hay thông phán thì không khó.

Đó chính là chí lớn và quyết tâm của Nguyễn Tất Thành khi bỏ nước ra đi. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y. Cho nên, y phải vươn lên cho bằng được. Vươn lên bằng cách đi Pháp. Đi Pháp với bất cứ giá nào. Điều này, sách vở Việt Cộng cũng đã viết :

“Khi đã có chí, đã quyết tâm, mọi khó khăn đều có thể vượt qua, mà nhất định phải vượt được. Phải sang tới Pháp. Quyết không vì một sơ sểnh nào mà bị đuổi lên một bến bờ không định trước. Mục tiêu là nước Pháp kia” (Thy Ngọc, Việt Nam Đẹp Nhất Có Tên Bác Hồ, Nxb Trẻ, Hà Nội 1997, trang 48).

Đó chính là giấc mơ của Nguyễn Tất Thành, lúc đó 20 tuổi, thất học và con nhà nghèo. Giấc mơ được đi Pháp, được học trường Pháp, rồi về nước làm quan cho Pháp. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y.

Nhưng, Việt Cộng thì viết khác.

Mãi cho đến cuối năm 1982, tất cả sách vở Việt Cộng đều ca một luận điệu : vì căm thù thực dân Pháp, và vì quyết tâm đi theo tiếng gọi của non sông, Bác đã bỏ con đường học vấn, bôn ba tìm đuờng cứu nước.

Trong cuốn Hồ Chủ Tịch, Trường Chinh còn khẳng định : “vì Người phát giác trường học của Pháp chỉ nhằm đào tạo tay sai cho đế quốc, cho nên Người đã bỏ ra đi tìm đường cứu nước”.

Võ Nguyên Giáp cũng viết thế. Phạm Văn Đồng viết thế. Tố Hữu viết thế. Tất cả văn nô Việt Cộng từ trên xuống dưới đều viết thế.

Chúng nó đã bị Người lừa.

Người đây, là Hồ Chí Minh.

Sự thật là : sau một thời gian làm bồi tầu, Nguyễn Tất Thành lâm vào cảnh cực kỳ quẫn bách, và gần như tuyệt vọng. Chẳng lẽ suốt đời làm bồi tầu, bị bạc đãi, bị chửi bới và không tương lai. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y.

Y bèn nạp đơn xin vào học Trường Thuộc Địa (Ecole Coloniale) của Pháp.

Vụ này, y giấu tất cả mọi người. Giấu cả bọn Trường Chinh, Hoàng Văn Hoan, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn ...
Mãi cho đến năm 1983.

Năm 1983, một học giả Người Quốc Gia VN (tiến sĩ Nguyển Thế Anh) tìm thấy tại Thư Khố Đông Dương ở Aix En Provence bên Pháp một tài liệu vô cùng quý giá : lá đơn viết tay của Nguyễn Tất Thành xin vào học trường thuộc điạ của Pháp. Lá đơn đề ngày 15/09/1911.

(hinh)
Đây là tập bìa đựng hồ sơ của Nguyễn tất Thành xin vào học trường Thuộc địa Đông Dương



Đây là ảnh sao (photocopy) thư của Nguyễn Tất Thành bằng chữ Pháp gởi tổng thống Pháp xin vào học trường Thuộc địa Đông Dương.



Marseille le 15 Septembre 1911
Monsieur le Président de la République
J’ai l’honneur de solliciter de votre haute bienveillance la faveur d’être admis à suivre les cours de l’Ecole Coloniale comme interne.
Je suis actuellement employé à la Compagnie des Chargeurs Réunis “Amiral Latouche Trévile” pour ma substance.Je suis entièrement dénué de ressources et avide de m’instruire. Je désirerais devenir utile à la France vis à vis de mes compatriotes et pouvoir en même temps les faire profiter des bienfaits de l’Instruction.
Je suis originaire de la province de Nghê An, en Annam.
En attendant une réponse que j’espère favorable, agréez, Monsieur Le Président, l’assurance de ma reconnaissance anticipée.
Nguyễn Tất Thành, né à Vinh en 1892, fils de Mr. Nguyễn Sinh Huy (sous docteur ès- lettres). Etudiant Francais, quốc ngư, caractère chinois.

Lá đơn nổ như một trái bom. Đảng CSVN nhìn nhau, ngơ ngác. Họ đã bị Bác lừa.

Bác đây là Hồ Chí Minh.
Dưới đây tôi xin tạm dịch ra tiếng Việt :

Marseille ngày 15 tháng 9, 1911
Kính gửi Tổng Thống Cộng Hoà Pháp
Tôi hân hạnh thỉnh cầu Ngài vui lòng cho tôi đặc ân được vào theo học Trường Thuộc Điạ với tư cách nội trú.
Hiện nay, tôi làm công cho hãng Chargeurs Réunis Amiral Latouche Tréville để sinh sống.
Tôi hoàn toàn túng quẫn và ham muốn được học hành. Tôi ước ao trở nên hữu ích cho nước Pháp trong tương quan đối với đồng bào tôi, đồng thời có thể giúp đồng bào tôi hưởng những lợi ích của học vấn.
Tôi sinh đẻ tại Nghệ An, Trung Kỳ.
Trong khi chờ đợi một sự trả lời mà tôi hy vọng là thuận lợi cho tôi, Tổng Thống hãy nhận nơi đây lòng biết ơn trước của tôi.
Nguyễn Tất Thành,
sinh tại Vinh năm 1892,
con trai ông Nguyễn Sinh Huy
(phó bảng văn chương),
học tiếng Pháp, quốc ngữ và chữ Nho.

Có nhiều điểm đáng nói.

Điểm 1 : Tiếng Pháp trong lá đơn xin học của Nguyễn Tất Thành quá kém.

Điểm này cần được nêu ra, để chứng minh một sự thực vô cùng quan trọng : những tài liệu viết bằng tiếng Pháp ký tên Le Patriot hay Nguyen Le Patriot tại Paris sau này, như “Mêmorandum Des Reven-dications du Peuple Annamite”, “Le Paria”, “Le Procès Contre La Colonisation Francaise”, v. v. đã không do Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chí Minh) viết, mà do nguời khác viết.

Điểm 2 : Trong đơn, Nguyễn Tất Thành xin được làm học sinh nội trú, nghĩa là được ăn ở ngay trong trường.

Nguời ta thâáy rõ : Nguyễn Tất Thành nạp dơn xin vào học nội trú, là để đỡ đói rét, ngoài giấc mơ sau này được làm quan cho Tây. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y.

Điểm 3 : Trong đơn xin học, Nguyễn Tất Thành khai y sinh năm 1892. Y khai gian. Sự thực, y sinh năm 1890.

Điểm 4 : Trong đơn xin học, y khai đã học tiếng Pháp, quốc ngữ và chữ nho. Chỉ có vậy.
Nói tóm lại : Nguyễn Tất Thành nạp đơn xin vào học nội trú Trường Thuộc Đia Pháp, là để có chỗ ăn chỗ ở, đỡ đói rét, và để sau này được về làm quan cho Tây. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y.
Nhưng đơn của y đã bị bác.

Lời Bàn Mao Tôn Cương Rất Sáng Suốt Của Cụ Víp KK, Chánh Án Tư Quốc Tế Pháp Viện Đình Tân Kiểng Cạnh Đống Rác Đường Trần Hưng Đạo Sàigòn Ngày Xưa.

Lời bàn 1 : Nguyễn Tất Thành, tức Hồ Chí Minh, vì đói rách và không tương lai, đã nạp đơn xin học nội trú trường thuộc điạ của Pháp và đơn đã bị bác. Vụ này, y giấu tất cả mọi người. Bọn Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng không biết, cho nên cứ mồm loa mép giải rằng : vì ghét cái học của Pháp, Bác đã bỏ học, đi tìm đường cứu nước.

Lời bàn 2 : Tất cả sách vở của đảng đều viết rằng hồi nhỏ Bác đã từng học trường Quốc Học Huế và từng dậy học tại trường Dục Thanh, Phan Rang. Đây là những thành tích văn hóa tốt. Nếu có thật, Nguyễn Tất Thành đã không dại gì mà không kê khai trong lá đơn xin học. Nhưng, trong đơn xin học, y chỉ dám khai là đã “học tiếng Pháp, quốc ngữ và chữ nho”. Y không dám khai gian, vì sợ người Pháp có hồ sơ của trường Quốc Học Huế và trường Dục Thanh.

Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười của Đảng CSVN, tức Nguyễn Cống ngày xưa làm nghề hoạn lợn từng bị người ta vác dao rượt vì hoạn chết lợn của người ta, rất hoan nghênh những nhận định rất sáng suốt của cụ VIPKK.

Cựu Tổng bí thư Đỗ Mười còn nói : tất cả đảng CSVN bọn tôi, đứa nhớn đứa nhỏ, nhất là những đứa đã vào được Chính Trị Bộ, đều gian manh bịp bợm. Nhưng, so với Bác Hồ, bọn tôi còn kém xa.

Về vụ án cụ Nguyễn Sinh Sắc, cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười cho biết : vụ đó có thiệt. Sở dĩ Trần Minh Siêu có được tài liệu và dám in trong cuốn “Những Người Thân Trong Gia Đình Bác Hồ” là do sự bảo trợ ngầm của Võ Văn Kiệt, lúc đó đứng thứ 3 trong chính trị bộ.

Vẫn theo Cựu tổng bí thư Đỗ Mười, thì tài liệu ấy đã do bọn phản đảng miền Nam (Bẩy Trấn, Trần Văn Giầu và Nguyễn Hộ) ngầm phổ biến trong cuộc hội thảo của “Câu Lạc Bộ Những Người Kháng Chiến Cũ Sài Gòn”. Cuộc hội thảo này đã diễn ra ngày 07/01/1990, tại Nhà Văn Hoá Lao Động Sài Gòn, tức trụ sở quốc hội cũ thời Mỹ Nguỵ. Cuộc hội thảo ấy mang tên :

“Công Cuộc Cải Tổ, Cải Cách, Đổi Mới Ở Các Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Anh Em Và Ở Việt Nam”. Diễn văn khai mạc là của Trần Văn Giầu. Diễn văn bế mạc là của Nguyễn Hộ.

Vẫn theo cựu tổng bí thư Đỗ Mười, thì cuốn sách của Trần Minh Siêu đã in xong và phân tán trong một đêm tại Hà-nội, dưới sự bảo trợ ngầm của phe cánh Võ Văn Kiệt. Sau đó, nhà nước đã cho cán bộ đi tịch thu, nhưng không kịp. Trong Nam cũng như ngoài Bắc, bọn phản động chuyền tay nhau in lén ra hàng trăm ngàn cuốn và bán chợ đen rất chạy.

Chương Ba

Lại đi kiếm ăn ; Đánh Cắp Danh Xưng Nguyễn Ái Quốc.
Sau khi đơn xin vào học Trường Thuộc Điạ bị bác, Nguyễn Tất Thành vô cùng chán nản.
Tài liệu của đảng viết : “Bác lại đi tìm đường cứu nước”.
Bác lại đi làm bồi tầu.

Vì phải làm việc quá nặng nhọc, Nguyễn Tất Thành mắc bệnh ho lao, sức khỏe trở nên suy nhược, và bị đuổi khỏi hãng.
Y về sống tại Anh, số 10 Orchard Place, Southampton, England. Tại đây, y làm đủ nghề : quét tuyết, bồi khách sạn, bồi ổ điếm, rửa phim ảnh ; đời sống cô đơn và cơ cực. Vì vậy y quyết định rời Luân Đôn để về sống ở Paris.

Y viết thư cho cụ Phan Chu Trinh lúc đó ở Paris
. Trong thư, y gọi cụ Phan là Hy Bá Nghi Mã Đại Nhơn, và xưng cháu. “Cháu muốn biết như cháu có thể gặp Bác trước lúc Bác đi hay không và cháu rất cần một lời ...” . Bức thư này do y viết tay, hiện lưu trữ tại thư khố Luân Đôn.

Năm Đinh Tỵ (1917), y rời Luân Đôn, về định cư tại Paris, làm nghề thợ ảnh, đời sống vẫn cơ cực và không tương lai.
Lúc đó, Paris có đông người Việt Nam lưu vong, và là trung tâm của nhiều tổ chức chính trị Pháp thiên tả, đặc biệt Đảng Xã Hội Pháp SFIO (Section Francaise de l’Internationale Ouvrière), một chi nhánh của Đệ Nhị Quốc Tế.

Lúc đó, phong trào Việt Nam chống Pháp dành độc lập lan rộng. Hai nhóm chính được sử sách ghi nhận. Một nhóm, do cụ Phan Chu Trinh lãnh đạo, nhắm vào văn minh Âu Châu. Một nhóm, do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo, tức Việt Nam Quang Phục Hội, nhắm vào Tam Dân Chủ Nghĩa của Tôn Dật Tiên. Nhóm thứ nhất hoạt động tại Pháp. Nhóm thứ hai hoạt động tại Trung Hoa.
Sách vở Việt Cộng đã triệt để khai thác sự kiện này, khi viết “Bác đi tìm đường cứu nước”, với thâm ý đặt bác Hồ của họ ngang hàng với những Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, của người quốc gia Việt Nam.
*
Lúc đó, tại Paris có nhóm nhân sĩ Việt Nam của cụ Phan Chu Trinh, luật sư Phan Văn Trường, và kỹ sư Nguyễn Thế Truyền. Nhóm nhân sĩ này rất đươc kính nể, vì là tác giả nhiều bài tham luận chính trị có tầm vóc, như “Le Procès Contre La Colonisation Francaise” (Bản Án Chống Thực Dân Pháp), Le Paria (Việt Cộng dịch là Người Cùng Khổ) và “Mémorandum Des Revendications du Peuple Annamite” (Những Yêu Sách Của Nhân Dân Annam) gửi Hội Nghị Versailles năm 1919.

Những tài liệu này được viết bằng một tiếng Pháp trình độ hàn lâm, và được ký dưới một tên chung : Le Patriote, hoặc Nguyen Le Patriot.

Kẻ được thuê mướn đi phân phát những tài liệu đó tại Paris, là Nguyễn Tất Thành.

Nguyễn Tất Thành đã không bỏ lỡ cơ hội. Y tự nhận là Nguyen Le Patriot. Y trở thành Nguyễn Ái Quốc. Và y đã vào được đảng Xã Hội Pháp (SFIO). Một vinh dự lớn cho y.

Lời Bàn Mao Tôn Cương Rất Sáng Suốt Của Cụ Vip KK Chánh Án Tư Tối Cao Pháp Viện Đình Tân Kiểng Cạnh Đống Rác Đường Trần Hưng Đạo Sàigòn Ngày Xưa :

Ngày xưa tôi tập sự luật sư tại văn phòng Luật sư Bùi Tường Chiểu, số 148 Pasteur, Sàigòn. Ls Chiểu đã dậy dỗ tôi nhiều về văn chương Pháp, và về khoa hùng biện.

Luật sư Chiểu từng quen thân Ls Nguyễn Mạnh Tường. Theo Ls Chiểu kể lại, thì Ls Nguyễn Mạnh Tường quả quyết : Nguyễn Tất Thành chỉ nói đuợc thứ tiếng Pháp của anh em lính thợ Annam không chuyên nghiệp ONS (Ouvrier Non Spécialisé) được tuyển mộ sang Pháp thời đó. Nguyễn Tất Thành không đủ trình độ để hiểu, chứ chưa nói viết, những bài tham luận có tầm vóc như “Le Procès Contre La Colonisation Francaise”, và nhất là bản “Memorandum des Révendications du Peuple Annamite” gửi Hội Nghị Hoà Bình tại Versailles năm 1919.

Mới đây, bạn tôi, Chủ nhiệm Lê Hồng Long của tờ Thế Giới Ngày Nay, gửi cho tôi tuyển tập “Une Histoire de Conspirateurs Annamites à Paris” của Ls Phan Văn Trường. Tôi đã đọc.

Trong bài tựa của tuyển tập, trang 6, học giả Ngo Van viết : “En 1919, il rédige le ‘Mémorandum des Revendications du Peuple Annamite’ adressé à la Conférence de Paix à Versailles, dont Nguyen Ai Quoc – le futur Ho Chi Minh – revendiquera la paternité. (Tạm hiểu : “Năm 1919, [Phan văn Trường viết] ‘bản văn ngoại giao về những yêu sách của nhân dân Annam’ gửi Hội Nghị Hoà Bình tại Versailles. Bản văn đó, Nguyễn Ai Quốc, tức Hồ Chí Minh sau này, đã mạo nhận là tác giả).

Tôi muốn kết luận gì đây ? Tôi muốn kết luận : tất cả những bản văn chính trị viết bằng tiếng Pháp tại Paris từ 1910 đến 1940 và ký tên Nguyễn Ái Quốc, đã do người khác viết, Nguyễn Ái Quôc chỉ là kẻ mạo danh.

Năm 1960, cụ Nguyễn Thế Truyền ra tranh cử tổng thống tại miền Nam Việt Nam. Tôi có đi theo anh em báo chí đến nghe Cụ nói chuyện.

Khi đuợc hỏi về những tài liệu viết bằng tiếng Pháp tại Paris ký tên Nguyễn Ái Quốc, nhất là bản Mémorandum gửi Hội Nghị Hoà Bình Versailles 1919, cụ Truyền nói : Nguyễn Tất Thành chưa học hết tiểu học Pháp. Lúc đó ở Paris, nhóm chúng tôi mướn anh ta đi phân phát những tài liệu đấu tranh bằng tiếng Pháp do chúng tôi viết. Anh ta đã nhận xằng mình là Nguyễn Le Patriot và nhận xằng mình là tác giả những tài liệu đó.

Đó là Nguyễn Ái Quốc, tức Bác Hồ của đảng CSVN.

Chương Bốn

Đói Ăn Và Thèm Danh Vọng ; Trở Thành Tay Sai Đệ Tam Quốc Tế.
Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc trở thành tay sai của Đệ Tam Quốc Tếá.

Đệ Tam Quốc Tế là gì ?

Là Cộng Sản Quốc Tế (Komintern) do Lê Nin sáng lập năm 1919, nhằm tách ra khỏi Đệ Nhị Quốc Tế.

Đệ Tam Quốc Tế chủ trương liên minh giai cấp vô sản trên thế giới với các dân tộc bị đàn áp trên thế giới để tiến hành một cuộc cách mạng toàn thế giới do Liên Sô lãnh đạo. Tiến hành bằng đấu tranh giai cấp và bạo lực.

Đệ Tam Quốc Tế – do Liên Sô sáng lập, và lãnh đạo – bao trùm tất cả các đảng CS điạ phương trên thế giới.
Những đảng CS điạ phương này chỉ là lũ tôi tớ nằm trong kỷ luật sắt của Liên Sô, và có bổn phận phải đóng góp cho sự lớn mạnh của Liên Sô. Đóng góp bằng tiền bạc cướp được của nhân dân, và đóng góp bằng xương máu, nếu tình thế đòi hỏi.

Đệ Tam Quốc Tế là bản thân Liên Sô, một đế quốc thực dân, bóc lột, tàn bạo và đểu cáng như chưa hề có trong lịch sử nhân loại.
*
Nguyễn Ái Quốc đã đi theo Đệ Tam Quốc Tế. Và y đã trở thành một cán bộ đắc lực của Đệ Tam Quốc Tế. Y không còn con đường nào khác để giải quyết cái hiện tại “đói rách” của y lúc đó. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y.

Y được Mạc Tư Khoa trợ cấp hàng tháng một số tiền khá lớn, và được Mạc Tư Khoa xử dụng như một cán bộ nòng cốt trong chiến lược nhuộm đỏ Đông Dương.

Lúc đó là tháng 07/1920. Theo tài liệu Việt Cộng, lúc đó y 30 tuổi.

Tháng 12/1920 Đảng Xã Hội Pháp (SFIO) họp đại hội tại Tours (Pháp quốc), Nguyễn Ái Quốc đứng lên đả kích SFIO. Sau đó, y bỏ SFIO, công khai gia nhâp đảng Cộng Sản Pháp, và trở thành cán bộ chính thức của Liên Sô. Nguyễn Ái Quốc nổi danh từ đó.
*
Tất cả sách vở Việt Cộng đều viết : con đường giải phóng dân tộc gắn liền với cách mạng vô sản thế giới, và vì lòng nhân ái muốn cứu dân cứu nước, Bác đã đi theo con đường cách mạng vô sản.

Sách vở Việt Cộng còn nhắc lại bài ca rất mùi của Nguyễn Ái Quốc, cái đêm y đọc “Bản Luận Cương Lê Nin”. Chúng ta hãy nghe Nguyễn Ái Quốc ca sáu câu vọng cổ :

“Luận cương của Lê Nin làm tôi rất cảm động, phấn khởi, tin tưởng biết bao ! Tôi vui mừng đến phát khóc. Ngồi một mình trong buồng, tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo : hỡi đồng bào bị đoạ đầy đau khổ : đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta” (Hồ Chí Minh Toàn Tập. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 127).

Người ta không khỏi lắc đầu.

Thứ nhất : Hồ Chí Minh vô cùng lưu manh. Lưu manh ngay cả đối với những tay chân thân tín nhất của y. Vụ y nạp đơn xin vào học nội trú trường Thuộc Điạ của Pháp, là bằng cớ. Vụ này, cho đến lúc chết, y vẫn giấu. Giấu Đảng, giấu cả Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh. Vì vậy tất cả đảng CS Việt Nam đã mắc lỡm khi ca tụng Bác “vì căm thù giặc Pháp, nên đã bỏ học rất sớm”.

Rồi quyển “Những Mẩu Truyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch”, do Trần Dân Tiên ( tức Hồ Chí Minh) viết ca tụng chính Hồ Chí Minh, là bằng cớ thứ hai ,về cái lưu manh của Hồ Chí Minh.

Tôi vừa đưa ra hai sự việc, để chứng minh một sự thực : Hồ Chí Minh là một tên lưu manh, và có tài đóng kịch.
Bên cạnh cái lưu manh và tài đóng kịch, còn một thực tế phũ phàng : cái nghèo khổ đói rách của y lúc đó. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y.

Cho nên : sự kiện y trở thành tay sai Đệ Tam Quốc Tế là điều dễ hiểu.

Đó là con đường duy nhất giúp y thoát khỏi cảnh nghèo đói lúc đó tại Paris. Và đó cũng là con đường có thể đưa y tới danh vọng.
Nói tóm lại, Nguyễn Ái Quốc đi theo Đệ Tam Quốc Tế, vì không còn đường tiến thân nào khác. Và nhất là vì nhu cầu cấp bách của y lúc đó tại Paris, nhu cầu có miếng ăn hàng ngày và đỡ đói rách. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y.

Lời Bàn Mao Tôn Cương Rất Sáng Suốt Của Cụ Vip KK Chánh Án Tư Quốc Tế Pháp Viện Đình Tân Kiểng Cạnh Đống Rác Đường Trần Hưng Đạo Sàigòn Ngày Xưa.

Nguyễn Ái Quốc đi theo Đệ Tam Quốc Tế, vì đói, vì tiền. Y không mất mát gì. Y không xuất thân từ một dòng họ danh vọng. Y xuất thân từ một gia đình hạ cấp đói rách, như hầu hết những cán bộ đầu sỏ Việt Cộng sau này. Đứa em tên Xin ám ảnh y. Vụ của bố ám ảnh y.

Bài ca Luận Cương Lê Nin của Hồ Chí Minh chỉ là sáu câu vọng cổ rẻ tiền nhằm biện minh cho sự bán thân và vong thân của y. Bán thân vì đói, vong thân vì tiền.

Cựu Tổng Bí Thư đảng CSVN Đỗ Mười, tức Nguyễn Cống ngày xưa làm nghề hoạn lợn và từng bị người ta vác dao rượt vì hoạn chết lợn của người ta, hoàn toàn đồng ý với lời bàn rất sáng suốt này của cụ Vip KK.

Chương Năm

Tay Sai Đệ Tam Quốc Tế ; Thời Kỳ Huấn Luyện Tại Nga Sô.

Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc đuợc CS Pháp thuê mướn đi rải truyền đơn. Bị mật thám Pháp truy nã, y được đảng CS Pháp bố trí cho sang Đức, rồi từ Đức đáp xe lửa đi Mạc Tư Khoa. Giấy thông hành của y (số 1829, đề ngày 16/06/1925 đóng dấu toà đại sứ Nga tại Bá Linh) ghi : Chen Wang, sinh ngày 15/01/1895 tại Đông Dương, làm nghề thợ ảnh. (Nguyên văn : Chen Wang né le 15 Janvier 1895 à Indochine, profession : photographe) .

Nguyễn Ái Quốc được ở lại Mạc Tư Khoa, học tập lý thuyết Marx, học tập chủ nghĩa Marx - Lenin, và học tập sách lược đấu tranh của Lê Nin.


Ngoài ra, y cũng được dự một vài hội nghị khác tại Mạc Tư Khoa. Cũng vẫn bài bản cũ : bày tỏ lòng tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Liên Sô trong sự nghiệp giải phóng nhân loại khỏi áp bức.

Và y đã trở thành một cán bộ thuần thành của Mạc Tư Khoa.
Mạc Tư Khoa đã xử dụng y trong tổ chức mang tên Cục Đông Phương CSQT.

Chương Sáu

Tay sai đê tam quốc tế ; Thời Kỳ Hoạt Động tại Trung Hoa
Cục Đông Phưong Cộng Sản Quốc Tế (CĐP/ CSQT) là gì ?

Là một phân bộ quan yếu của Mạc Tư Khoa tại Đông Phương lúc đó, với nhiệm vụ lũng đọan Trung Hoa Quốc Gia (Trung Hoa Quốc Gia của Tôn Dật Tiên, và sau này của Tưởng Giới Thạch), đồng thời giúp đỡ đảng CS Trung Quốc của Mao Trạch Đông còn đang trong thời kỳ phôi thai.

Riêng đối với Nguyễn Ái Quốc, CĐP / CSQT còn là chặng đường lý tưởng giúp y du nhập chủ nghĩa CS vào Việt Nam.
Lúc đó, y lấy tên là Lý Thụy.

Năm Quý Hợi (1923) Lý Thụy được Mạc Tư Khoa phái sang Quảng Châu, phục vụ trong phòng thông tin của Borodin (sách Tầu ghi là Pháo La Đình), môt cán bộ của Mạc Tư Khoa.

Võ Nguyên Giáp đã viết rất rõ “Lý Thuỵ được phái sang Quảng Châu để chỉ đạo phong trào cách mạng và phong trào nông dân ở Trung Quốc và một số nước châu Á”.

Ngoài ra, tất cả sách vở Việt Cộng đều viết : Quảng Châu, Miền Nam Trung Quốc, là nơi nhiều nhà cách mạng VN yêu nước đang hoạt động, cho nên Người rất quan tâm.

Người đây là Lý Thụy, tức Hồ Chí Minh. Theo sử gia Trung Hoa Tưởng Vĩnh Kính trong quyển Hồ Chí Minh Tại Trung Quốc, thì lúc đó “Quảng Châu không những là một trung tâm cách mạng của Trung Quốc, mà còn là thánh địa của Á Châu chống đế quốc chủ nghĩa”.

Và Mạc Tư Khoa đã gửi Lý Thụy đến thánh địa đó.
*
Tại Quảng Châu, Lý Thụy có dịp tiếp xúc một số thanh niên VN của Phong Trào Đông Du, thuộc Tâm Tâm Xã, một tổ chức chống Pháp dành độc lập.

Tâm Tâm Xã do cụ Phan Bội Châu thành lập tại Quảng Châu năm Giáp Dần (1914). Tổ chức này đuợc giới cách mạng Trung Hoa Quốc Gia cũng như giới cách mạng Việt Nam Quốc Gia ngưỡng mộ, nhất là sau vụ liệt sĩ Phạm Hồng Thái.
Chúng ta nên ôn lại lịch sử.

Năm Quý Hợi (tháng 06/1923) Toàn Quyền Đông Dương Merlin ghé qua Sa Diện (Quảng Châu) trên đường sang Nhật Bổn. Phạm Hồng Thái ám sát Merlin, nhưng ám sát hụt. Bị cảnh sát truy nã, họ Phạm gieo mình xuống đầm Bạch Nga. Thi hài họ Phạm đuợc anh em cách mạng Việt Nam tại Trung Hoa vớt lên chôn ở chân đồi Bạch Vân. Năm Ất Sửu (1925), để tôn vinh nhà cách mạng VN, tỉnh truởng Quảng Châu là Hồ Hán Dân đã truyền đưa hài cốt họ Phạm vào an táng tại Hoàng Hoa Cương, thánh địa của những vị anh hùng cách mạng Trung Hoa Dân Quốc.

Phạm Hồng Thái được coi là linh hồn của Tâm Tâm Xã.

Lý Thuỵ, tức Hồ Chí Minh, đã xâm nhập đuợc Tâm Tâm Xã, nhân danh cách mạng Việt Nam, và nhân danh tinh thần Phạm Hồng Thái bất diệt. Y đã lừa bịp được tổ chức này và được tổ chức này nhiệt tình ủng hộ. Một vài thành viên ưu tú của Tâm Tâm Xã đã được y móc nối gửi sang học tập tại Mạc Tư Khoa, và trở thành cán bộ CS sau này.

Năm Ất Sửu (1925), trong mưu đồ nắm trọn quyền lãnh đạo Tâm Tâm Xã, và để kiếm một món tiền thưởng rất lớn của thực dân Pháp, Lý Thụy đã cùng với Lâm Đức Thụ (tức Nguyễn Công Viễn) lập mưu bắt cụ Phan Bội Châu trao cho Pháp.

Cụ Phan bị bắt tại Thượng Hải, bị đưa về Hương Cảng, rồi từ đó bị giải về Hải Phòng. Ngày 8 tháng 10 năm Ất Sữu (23/11/1925) , cụ bị đưa ra trước Đại Hội Đồng Đề Hình của Pháp (tại Hải Phòng) và bị lên án tử hình. Sau đó, để trấn an dư luận, toàn quyền Varenne của Pháp đã ra lệnh ân xá, và an trí cụ tại Huế. Cũng năm Ất Sửu (1925), tại Quảng Châu, tổ chức “Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội’ ra đời, gồm phần lớn thành viên của Tâm Tâm Xã. Tổ chức nói trên cũng đã bị Lý Thụy xâm nhập, và trở thành đội ngũ tiền phong của đảng CSVN sau này.

Theo Hoàng Văn Hoan tác giả “Giọt Nước Trong Biển Cả” xuất bản thâp niên 1980, thì suốt thời kỳ hoạt động tại Trung Hoa,
Bác đã được sự giúp đỡ nhiệt tình của cụ Hồ Học Lãm, một nhà cách mạng VN có uy tín lớn tại Trung Hoa Dân Quốc lúc đó.
Bác đây là Lý Thụy, tức Hồ Chí Minh.

Cũng theo Hoàng Văn Hoan thì cụ Hồ Học Lãm lúc đó vẫn coi Bác là một nhà cách mạng Việt Nam trong truyền thống Phạm Hồng Thái- Nguyễn Thái Học.

(Chú thích của tôi, Nguyễn Văn Chức : Hoàng văn Hoan là Đại sứ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đầu tiên tại Bắc Kinh năm 1950 ; Uỷ Viên Trung Ương Đảûng năm 1951 ; Uỷ Viên Chính Trị Bộ 1956 về Cải Cách Ruộng Đất, Phó Chủ Tịch kiêm Tổng Thư Ký Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội Khoá 1 năm 1958, khoá 2 năm 1960, khoá 3 năm 1964, khoá 4 năm 1971 ; Uỷ Viên Chính Trị Bộ đảng CSVN năm 1960, Bí Thư Thành Uỷ Hà-nội năm 1961).
*
Theo tất cả sách vở và tài liệu của Việt Cộng, đặc biệt quyển “Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Con Đường Cách Mạng Việt Nam” của Võ Nguyên Giáp, thì năm Canh Ngọ (tháng 2 năm 1930), Trần Phú sáng lập Việt Nam Cộng Sản Đảng . Vẫn theo Võ Nguyên Giáp, thì tháng 10 năm đó, thi hành lệnh của Mạc Tư Khoa, Bác đã đổi tên Việt Nam Cộng Sản Đảng thành Đông Dương Cộng Sản Đảng.

Bác đây là Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh.

Sáu tháng sau, ngày 19/04/1931 Trần Phú, – từng được huấn luyện tại Mạc Tư Khoa, có tầm vóc hơn Hồ Chí Minh, và là lãnh tụ đầu tiên của phong trào CS tại Đông Dương – Trần Phú đã bị Pháp bắt tại Sàigòn. Dư luận lúc đó quả quyết : Nguyễn Ái Quốc đã chủ mưu vụ này, nhằm loại trừ một đối thủ có tầm vóc.

Lơi Bàn Mao Tôn Cương Rất Sáng Suốt Của Cụ Vip KK Chánh Ánh Tư Quốc Tế Pháp Viện Đình Tân Kiểng Cạnh Đống Rác Đường Trần Hưng Đạo Sàigòn Ngày Xưa.

Nguyễn Tât Thành, tức Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh, là một tên đại lưu manh. Nhờ vậy, y đã thành công rực rỡ. Từ một tên bồi tầu đói rách, y đã trở thành chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà cờ đỏ sao vàng, và vị lãnh đạo tối cao của đảng CSVN.

Đại hội X (tức đại hội 10, nhân dân trong nước đọc là đại hội Ếch) của đảng CSVN hồi tháng Tư 2006 vừa qua đã khiến cả nước phải lắc đầu. Ngay cả bọn Phan Văn Khải CSVN cũng đã phải ngượng mồm khi lên tiếng tôn vinh Hồ Chí Minh.
Cựu Tổng Bí Thư Đảng CSVN Đỗ Mười, tức Nguyễn Cống ngày xưa làm nghề hoạn lợn từng bị người ta vác dao rượt vì hoạn chết lợn của người ta, rất đồng ý với lời bàn rất sáng suốt nói trên của cụ Vip KK.

Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười cho biết : Phan văn Khải, tức tên thủ tướng của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa VN trong chuyến Úc du tháng 04/2005 và Mỹ du tháng 06/2005 đã bị Người Việt Tỵ Nạn vác cờ vàng ba sọc đuổi chạy vãi cả ra quần, cũng rất đồng ý với lời bàn rất sáng suốt của cụ Vip KK.

Tổng Bí Thư Đỗ Mười còn cho biết : hai tên Nguyễn Minh Triết, Nguyẽn Tấn Dũng – bây giờ có trong tay cả trăm triệu Mỹ kim nhờ tham nhũng, trộm cắp buôn lậu – cũng rất đồng ý với lời bàn rất sáng suốt của cụ Vip KK vô vàn mến yêu.
Cựu tổng bí thư Đỗ Mười cũng cho biết : hai tên Nguyễn Minh Triết, Nguyễn tấn Dũng dự định sang Mỹ vận động cho nhà nước và đảng ta, nhưng sợ bị lũ ngụy hải ngoại đánh đuổi như đã đánh đuổi Phan văn Khải trước đây năm 2005.

Cựu tổng bí thư Đỗ Mười còn chửi địt mẹ cái Nghị Quyết chó đẻ 36-NQ/TU ngày 26/03/2004. Theo cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười, thì Phan Văn Văn Khai phàn nàn rằng : chính vì cái nghị quyết chó đẻ 36-NQ/TU ấy, mày đã bị Người Việt Hải Ngoại cầm cờ vàng ba sọc đánh đuổi như con chó, trong chuyến Úc du và Mỹ du của y năm 2005.

Chương Bảy

Trốn Khỏi Trung Hoa ; Sang Hoạt Động Bên Xiêm La.

Năm 1927, chính quyền Trung Hoa Quốc Gia mở chiến dịch lùng bắt cộng sản.

Borodin bỏ chạy về Mạc Tư Khoa. Nguyễn Ái Quốc bị bắt giam. Nhờ uy tín của cụ Hồ Học Lãm, y đã được phóng thích. Y trốn về Mạc Tư Khoa, và được Mạc Tư Khoa phái sang Hương Cảng, làm việc dưới quyền một tên CS Pháp : Hilaire Noulens (sách Tầu ghi là Ngưu Lan).

Nguyễn Ái Quốc được Ngưu Lan giao phó công tác vùng Đông Bắc Thái Lan, nơi có đông nguời Việt lưu vong. Chỉ trong mấy năm, y gặt hái đuợc nhiều kết quả, nhờ tài tổ chức và bịp bợm.

Và cũng nhờ thời cuộc.

Ngày 10/02/1930, cuộc khởi nghĩa Yên Báy thất bại. Nhiều anh em VN Quốc Dân Đảng bị Pháp bắt, tra tấn, thủ tiêu. Đảng trưởng Nguyễn Thái Học bị bắt tại ấp Cồ Việt tỉnh Hải Dương. Ngày 17/07/1930 ông và một số đồng chí bị đưa lên máy chém tại Yên Báy. Trước khi chết, ông đã hô to “Không thành thân thì thành nhân. Việt Nam muôn năm”.

Theo quyển “Hồ Chí Minh Tại Trung Quốc” của Tưởng Vĩnh Kính, thì Nguyễn Ái Quôc đã vô cùng hoan hỉ truớc tai họa của Việt Nam Quốc Dân Đảng, coi đó là cơ hội ngàn vàng. Y đem đảng CS của y trám vào chỗ trống. Trong thư luân lưu gửi đảng viên, y viết :

“Lần khởi nghĩa Yên Báy giai cấp tư sản đã mất hết ảnh hưởng trong việc vận động giải phóng dân tộc ; đảng ta được tha hồ tổ chức giai cấp công nhân và quần chúng nông dân lao động vào đảng, và đảng ta trở thành lực lượng duy nhất thi hành lãnh đạo cách mạng chống đế quốc chủ nghĩa”.

Chương Tám

Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội của Người Quốc Gia Trở Thành Mặt Trận Việt Minh.
Ngày 20/06/1940, Pháp bị Đức đánh bại ở Âu Châu, Nguyễãn Ái Quốc triệu tập đại hội đảng tại Côn Minh, sửa soạn về nước cướp chính quyền.

Tưởng cũng nên nhắc lại : tại Trung Hoa lúc đó, có những tổ chức cách mạng sau đây của người Việt quốc gia lưu vong :

1. Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội do cụ Hồ Học Lãm chủ trì.
2. Việt Nam Giải Phóng Đồng Minh Hội do cụ Trương Bội Công chủ trì.
3. Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, do cụ Nguyễn Hải Thần chủ trì.

Mượn danh nghĩa chống Pháp dành độc lập, Nguyễn Ái Quốc đã xâm nhập được những tổ chức nói trên. Thành công ngoạn mục nhất của y là đã cướp danh xưng Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (của cụ Hồ Học Lãm) để đặt tên cho một tổ chức cộng sản của y.

Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội của cụ Hồ Học Lãm đã bị bỏ mất chữ Hội, để trở thành Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, gọi tắt Việt Minh, một tổ chức võ trang tuyên truyền với võ khí do Trung Cộng cấp phát và cán bộ do Trung Cộng đào tạo.

Về vụ thành lập mặt trận Việt Minh, Võ Nguyên Giáp viết như sau :

“Tháng 05/1941, Người chủ trì Hội Nghị Trung Ương lần thứ 8 [...] Hội Nghị đề ra chủ trương thành lập mặt trận rộng rãi lấy tên là Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, gọi tắt là Mặt Trận Việt Minh” (Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Con Đuờng Cách Mạng VN, tr. 32).


Người đây, là Hồ Chí Minh.

Trước và sau Võ Nguyên Giáp, cả trăm sách vở Viêt Cộng đều cùng một luận điệu đó .

Lời bàn Mao Tôn Cương Rất Sáng Suốt Của Cụ VIP KK Chánh Án Tư Quốc Tế Tối Cao Pháp Viện Đình Tân Kiểng Cạnh Đống Rác Đường Trần Hưng Đạo Sàigòn Ngày Xưa

Trong đảng CSVN, Võ Nguyên Giáp, Đặng Thái Mai (bố vợ của y), và Hoàng Minh Giám, là những người có học nhất.
Cả ba từng là cựu giáo sư trường trung học Thăng Long Hà Nội ngày xưa. Cả ba đã đi theo cộng sản. Và cả ba rất hèn. Nhất là Võ Nguyên Giáp.

Trong vụ tên tướng VC Hoàng Văn Thái, người được Võ Nguyên Giáp che chở và cất nhắc (nghe nói còn là thông gia với Võ Nguyên Giáp), bị bọn Lê Đức Thọ Lê Duẩn ám hại, Võ Nguyên Giáp đã không dám hé răng. Năm 2002, bản thân y bị bọn Lê Khả Phiêu công khai hạ nhục. Y cũng không dám hé răng.

Cựu Tổng Bí Thư Đảng CSVN Đỗ Muời, tức Nguyễn Cống ngày xưa làm nghề hoạn lợn từng bị người ta vác dao ruợt vì hoạn chết lợn của nguời ta, rất hoan nghênh nhận định rất sáng suốt này của cụ VIP KK.

Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười cho biết : giữa thập niên 1990, Võ Nguyên Giáp bị bọn Lê Khả Phiêu làm nhục. Để vớt vát uy tín, Võ Nguyên Giáp đã viết quyển “Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Con Đường Cách Mệnh”. Trong quyển sách ấy (xuất bản năm 1997), Võ Nguyên Giáp kể truyện bác Hồ lúc bé phải bế em đi hàng xóm xin sữa xin ăn, tuởng rằng viết như vậy là đề cao Bác. Võ Nguyên Giáp đã bị cả đảng chửi như con chó. Bọn Lê Khả Phiêu đã xuýt tát vào mặt y.

Cũng trong cuốn sách đó, trang 247, Võ Nguyên Giáp còn viết rằng các nhà văn hoá của đảng đã phát hiện khoảng 600 (sáu trăm) gương tốt của bác Hồ, cả đảng phải bịt mũi. Nịnh Bác, mà nịnh quá, chỉ làm trò hề.

Cũng trong cuốn sách đó, trang 249, Võ Nguyên Giáp còn viết :

“Năm 1990, kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Hồ Chí Minh, Tổ Chức Văn Hoá Và Giáo Dục Thế Giới (UNESCO) đã tôn vinh Người là Vị Anh Hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là nhà văn hoá kiệt xuất ...”

Theo Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười, thì Võ Nguyên Giáp lại viết láo. Năm đó (1990), quả thật UNESCO dự định tôn vinh Bác là nhà văn hoá kiệt xuất, nhưng bị lũ nguỵ hải ngoại chống đối. Lũ Nguỵ hải ngoại kéo nhau đến biểu tình la hét trước Hội Nghị UNESCO tại Giơ Ne Vơ, và hô to đả đảo Hồ Chí Minh. Sau đó, UNESCO đã nhìn thấy sự thật, rút lại ý định tôn vinh Bác, và xin lỗi lũ nguỵ.

Thế mà Võ Nguyên Giáp dám viết rằng bác đã đuợc UNESCO tôn vinh.

Ngoài ra, tủ sách giáo khoa của đảng và nhà nước có quyển sách mang tên “Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh, Những Tác Phẩm Tiêu Biểu (Nxb Giáo Dục, xuất bản ngày 01/01/2000, Sài Gòn). Quyển sách giáo khoa này cũng trích dẫn lời của Võ Nguyễn Giáp, và lớn tiếng ca tụng Bác đã được UNESCO vinh danh là nhà văn hoá kiệt xuất của thế kỷ 20. Trang 14 của quyển sách đó viết như sau (nguyên văn) :

“Năm 1990, Tổ Chức Văn Hoá Giáo Dục Khoa Học Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã trao tặng Chủ Tịch Hồ Chí Minh danh hiệu danh nhân văn hoá thế giới, và đã long trọng kỉ niệm 100 năm sinh của Người”. chó

Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười còn nói : toàn bộ sách giáo khoa và nền giáo dục của đảng CSVN chúng tôi từ hơn 50 năm nay đều là gian manh lừa lọc. Tội nghiệp cho bao nhiêu thế hệ học sinh con em chúng ta.

Vẫn theo Cựu Tổng Bí Thư Hoạn Lợn Đỗ Mười, thì đã đi theo Bác, thằng đéo nào cũng hèn, cũng lưu manh bịp bợm. Càng có học, lại càng hèn, càng lưu manh bịp bợm. Võ nguyên Giáp là điển hình.

Cựu Tổng Bí Thư Hoạn Lợn Đỗ Mười gửi biếu cụ Vip KK quyển “Tư Tưởng Hồ Chí Minh” của Võ Nguyên Giáp, kèm hai câu ca dao đuợc truyền tụng trong dân gian khi Võ Nguyên Giáp bị bọn Lê Đức Thọ hạ tầng công tác xuống làm Chủ Tịch Uỷ Ban Hạn Chế Sanh Đẻ Nhà Nưóc :

“Ngày xưa đại tướng công đồn
Bây giờ đại tướng canh l. cản c.

và :
“Ngày xưa đại tướng cầm quân
Bây giờ đại tướng cầm quần chị em”


Chương Chín

Bản Chúc Thư Số Hai ; Hồ Chí Minh Chạy Tội Trước Lịch Sử

Hồ Chí Minh chết ngày 02/09/1969, và được phát tang ngày 03/09/1969. Y để lại một bản chúc thư trong đó y kể công lao của y và của đảng CSVN đối với dân tộc. Y vui mừng sắp được về với thánh tổ Các Mác. Y căn dặn đảng viên các cấp phải “giữ gìn đảng như giữ gìn con ngươi của mắt”.

Bản chúc thư nói trên – gọi là bản chúc thư số I – được Việt Cộng trân quý như thánh kinh của đảng.

Ngoài bản chúc thư số I nói trên, cuối thập niên 1980, người ta thấy xuất hiện ở Pháp một bản chúc thư số 2, đề ngày 14-8-1969, nói là do Hồ Chí Minh viết để lại cho đúa con gái lai tại Pháp.

Trong bản chúc thư số 2 này, Hồ Chí Minh phủ nhận bản chúc thư số I. Chẳng những thế, y còn viết rõ : y hối hận đã đi theo cộng sản làm hại đất nước.

Năm 1986, một ngưòi Pháp từ Paris gửi biếu tôi – Nguyễn văn Chức – bản chụp chúc thư số 2 này, kèm bản chụp bút tự của Hồ Chí Minh.

Nếu tôi không lầm, thì bản chúc thư số 2 này cũng đã được phổ biến trên nhiều báo tiếng Việt ở hải ngoại, hồi cuối thập niên 1980.

(di chuc)


Dưới đây, tôi xin đăng lại nguyên văn bản chúc thư số 2 ấy, như một tài liệu :

“Thời xưa, ở bên Trung Quốc, người ta thường nói con chim trước khi chết thì tiếng kêu thương, con người trước khi chết thì lời nói phải. Tôi tự xét mình chẳng còn sống bao lâu nữa, nên cố gắng viết di chúc này, mong rằng những điều viết ra không phải là những điều sai quấy.

Vừa mới đây, Lê Duẩn có đi với Trần Quốc Hoàn tới gặp tôi, buộc tôi phải viết bản di chúc theo ý họ. Tôi đã viết, mà trong bụng thì tấm tức vô cùng. Nay tôi viết thêm di chúc này, xin coi là chính thức. Ngoài ra tôi không nhận bất cứ di chúc nào khác là của mình. Tôi ước mong một ngày nào đó di chúc tôi đang viết đây sẽ được mọi người biết tới, thì ở thế giới bên kia tôi mới đuợc thoả lòng.

Tôi vốn con nhà nghèo, nhưng từ bé đã nuôi mộng đảo lộn sơn hà, mà đem lại vẻ vang cho nòi giống, nên tôi bôn ba hải ngoại bao nhiêu năm không hề quản ngại khó khăn gian khổ, vào tù ra khám, chỉ mong có ngày Tổ Quốc ta độc lập giầu mạnh, dân tộc ta hạnh phúc tự do.

Tôi thường đọc lịch sử nước Việt Nam ta, thấy ông Trần Thủ Độ là một tay hào kiệt hiếm có trên đời, đã không quản ngại làm việc ác, làm phản mà gây nên cơ nghiệp hiển hách của nhà Trần, đuổi giặc Nguyên, đem lại vinh quang cho cả dân tộc về cả hai mặt văn minh và đời sống. Không lượng sức mình, không đo tài mình, tôi đã hành động như ông Trần Thủ Độ, nên đất nước mới tan nát, nhân dân ta mới điêu linh mà đầu mình thì nặng nề không biết bao nhiêu tội ác không thể nào tha thứ được.

Cái nhầm tai hại nhất của tôi là đi theo cộng sản Mác Xít mà không biết là chủ nghĩa này dần dần trở thành lạc hậu và phản động, những người theo Mác Xít chỉ là giả bộ, để đánh lưà giai câp nghèo mà cướp lấy chánh quyền cho nước Nga.
Tôi cũng ngay tình mà dùng những người hợp tác với mình. Tôi cứ tưởng những người đó quý yêu tôi, đầu ngờ họ đều là mật thám của Nga, vây quanh tôi chỉ là để kiểm soát tôi, khéo léo hướng dẫn tôi đi theo con đường nước Nga đã vạch sẵn. Họ đề cao và tâng bốc tôi để khi nào tôi làm điều gì độc ác thì tôi phải chiụ hết trách nhiệm với dân tộc. Nhiều khi họ quyết định mà không hề cho tôi hay biết gì, như vụ Cải Cách Điền Điạ ở Bắc Việt bây giờ nhân dân còn nguyền rủa oán trách tôi không biết để đâu cho hết. Dù sao thì tôi vẫn là người có tội, tôi không dám chối cãi, chỉ dám mong lịch sử sau này xét kỹ cho tôi mà đừng lên án tôi quá nặng nề.

Đầu nàm 1963, hồi đó tôi còn chưa bị bao vây chặt chẽ quá, tôi có nhờ mấy ông thuộc Uỷ Hội Kiểm Soát Quốc Tế Đình Chiến chuyển vào Nam Bộ hai cành đào lớn rất đẹp để tặng cụ Ngô Đình Diệm, kèm theo một bức thư. Trong bức thư, tôi chân tình yêu cầu cụ Ngô cùng tôi thảo luận trong tình anh em, để hai bên cùng lo cho dân hai miền, trên căn bản thi đua làm cho dân giầu nước mạnh, theo đường lối riêng của từng người.

Truyện này vỡ lở ra, cụ Ngô bị giết ở trong Nam, còn ở ngoài Bắc tôi bị kiểm soát rất khắt khe, không có quyền quyết định gì nữa cả. Đáng lẽ ra thì tôi bị giết ngay từ hồi đó rồi, nhưng tên tôi còn được thế giới biết đến, nên họ còn phải lợi dụng mà để cho tôi sống thêm. Tôi đã già, râu tóc đã bạc mà còn phải sống trong cảnh ngục tù, cứ nghĩ đến điều này là tôi ứa nước mắt. Họ không giết tôi nhưng sai ông bác sĩ Tôn Thất Tùng cho uống thuốc độc, để tôi không thể đi đâu nữa, mà cũng không thể tiếp xúc với những người mà tôi muốn tiếp xúc. Tôi chưa chết ngay, nhưng là chết lần chết mòn, ở biệt lập một nơi để đợi ngày tắt thở.

Thật cũng tiếc, khi về già, biết mình sai lầm, muốn chuộc lỗi mà không được nữa.

Trước khi viết phần cuối di chúc, tôi xin thú nhận tôi không phải thần thánh gì, nên khi còn sống cũng đủ bẩy tình như kinh nhà Phật đã đề cập. Tôi không có vợ, nhưng cũng có được một đưá con gái lai Pháp. Tôi ước mong con gái tôi khi đọc được tờ di chúc này sẽ tha thứ cho tôi không đủ bổn phận làm cha, nhưng phụ tử tình thâm, tôi luôn luôn nhớ tới con gái tôi với muôn vàn âu yếm.

Ai cũng tưởng tôi là con người vô thần, nhưng riêng Đức Cha Lê Hữu Từ thì biết tôi rất tin có Đấng Tạo Hoá. Vì tin có ông Trời nên tôi xin khẩn cầu cho nước ta và các nước Cộng Sản khác trên thế giới sớm thoát ách Cộng Sản. Tôi cũng xin ông Trời cho tờ di chúc này có ngày được phổ biến khắp nơi.

Cuối cùng, tôi xin lẩy Kiều mượn tạm hai câu thơ của cụ Nguyễn Du để tỏ lòng hối hận trước đấng Cao Xanh :

“Rằng con biết tội đã nhiều
Dẫu rằng sấm sét búa rìu cũng cam”.
Ngày 14/08/1969
Hồ Chí Minh chó

Lời bàn Mao Tôn Cương Rất Sáng Suốt Của Cụ Vip KK Chánh Án Tư Quốc Tế Pháp Đình Tân Kiểng Bên Cạnh Đống Rác Đường Trần Hưng Đạo Ngày Xưa

Lời bàn một

Trong bản chúc thư số 2 nói trên, Hồ Chí Minh viết : “tôi vốn con nhà nghèo, nhưng từ bé đã nuôi mộng đảo lộn sơn hà, mà đem lại vẻ vang cho nòi giống, nên tôi bôn ba hải ngoại bao nhiêu năm không hề quản ngại khó khăn gian khổ, vào tù ra khám, chỉ mong có ngày tổ quốc ta độc lập giầu mạnh, dân tộc ta hạnh phúc tự do”.
Hồ Chí Minh viết bản chúc thư đó năm 1969. Nhưng y vẫn dấu nhẹm vụ y nạp đơn xin vào học trường Thuộc Điạ Pháp năm 1911.

Lời bàn hai

Hầu hết – nếu không muốn nói là tất cả – những tên đầu sỏ Việt Cộng cao cấp đều thất học cu ly cu leo, và con nhà khố rách áo ôm. Chúng nó đi theo cộng sản vì không còn con đường tiến thân nào khác. Nhưng trong tiểu sử hoặc chúc thư thì thằng chó nào cũng phét lác rằng mình đi theo cách mạng là để mưu tìm độc lập tự do cho Tổ Quốc. Đó chính là trường hợp Hồ Chí Minh.

Lời bàn ba

Những trại cải tạo rùng rợn Đầm Đùn, Lý Bá Sơ, cuộc tiêu thổ kháng chiến 1945, cuộc đấu tố rưộng đất 1953-1956, cuộc đàn áp văn nghệ sĩ năm 1956, vụ dâng đảo Hoàng Sa cho Bắc Kinh, cuộc chiến tranh xâm lược Miền Nam VN, vụ giết và chôn sống đồng bào hồi Tết Mậu Thân Huế, v. v... Tất cả những tội ác đó cũng như muôn vàn tội ác khác, đều do bàn tay Hồ Chí Minh.

Trong bản chúc thư số 2, Hồ Chí Minh đổ lỗi cho người khác.

Cựu Tổng Bí Thư đảng CSVN Đỗ Mười – tức đồng chí Nguyễn Cống ngày xưa làm nghề hoạn lợn từng bị người ta vác dao rượt vì hoạn chết lợn của người ta – rất đồng ý với những lời bàn rất sáng suốt của cụ VIP KK.

Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười không dám quả quyết vụ Bác Sĩ Tùng cho bác Hồ uống thuốc độc là có thật. Nhưng cựu tổng bí thư quả quyết chữ viết và luận điệu trong chúc thư là của Bác Hồ. Vụ Lê Duẩn, Lê Đức Thọ đàn áp bác Hồ 2 năm trước khi bác chết, cũng có thật. Cựu tổng bí thư Đỗ Mười còn cho biết : Lê Duẩn đã có lần nói hỗn với Bác, xô Bác té trên giường. Tội nghiệp cho Bác.

Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười còn nói : trong bản chúc thứ số 2 này, Bác tạ lỗi với đứa con gái lai Pháp, vì đã không làm bổn phận một người cha. Địt mẹ, làm như Bác chỉ có môt đứa con hoang. Theo cựu tổng bí thư Đỗ Mười, thì con rơi con rụng của bác, trắng đen, vừa trắng vừa đen, bạch tạng, rỗ chằng rỗ chịt, mắt toét mắt lồi, Marốc, Mễ, Tiêm La, Tầu, Việt Nam, Kampuchia, đếm đuợc cả trung đội.

Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười cũng nhắc đến chuyến đi Phát Diệm của Bác thăm Giám Mục Lê Hữu Từ năm 1946. Năm đó, Võ Nguyên Giáp có đi theo Bác, khi về đã kể chuyện lại.

Võ Nguyên Giáp kể rằng : giữa đám đông tụ tập trước Phương Đình Phát Diệm, Bác giơ cao tay hô to “Hoan Hô Đức Chúa”. Đồng bào công giáo Phát Diệm ôm bụng cười. Thật là... Bác còn lớn tiếng xin Giám Mục Lê Hữu Từ làm phép rửa tội ngay cho Bác, để Bác trở thành người của đạo Chúa. Nhưng Giám Mục Lê Hữu Từ bảo Bác phải học đạo 6 tháng mới được chịu phép rửa. Đồng bào có mặt đã vỗ tay hoan hô Giám Mục.

Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười còn kể : Tết Giáp Ngọ (1954) Bác Hồ gửi biếu Giám Mục Lê Hữu Từ một cành đào và khuyên Giám Mục nên ở lại Phát Diệm, đừng di cư vào Nam. Nhờ Đức Chúa chuẩn bị tư tưởng, Giám Mục Lê đã lãnh đạo con chiên bổn đạo di cư vào Nam. Cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười quả quyết : Giám Mục Lê mà ở lại Phát Diệm thì thế nào cũng bị Bác cho đi trại cải tạo Lý Bá Sơ hoặc Đầm Đùn, để trả thù về vụ đồng bào Công Giáo Phát Diệm làm nhục Bác năm 1946.

Cự Tổng Bí Thư Đỗ Mười còn nói : chúng tôi đã đi theo Bác thì thằng đéo nào mà chả gian ác lưu manh cu ly cu leo tổ mẹ. Nhưng so với Bác thì vẫn còn thua xa.

Chương Mười


Kết luận

Quyển tiểu sử Hồ Chí Minh của tôi, đến đây là hết. Nhưng cần một kết luận.
Trước khi kết luận, tôi thấy cần phải minh xác với bạn đọc, nhất là các bạn trẻ.

Tôi không phải là sử gia. Sử gia phải khách quan, không được viết theo cái chủ quan của mình.

Riêng tôi, tôi đã viết theo lập trường chủ quan của tôi, lập trường của một cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, cộng với lập trường của một kẻ suốt đời ôm hoài bão được bước theo gót người xưa : Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu ...
*
Viết về Hồ Chí Minh, tôi dựa trên hai loại tài liệu.

Tài liệu của LỊCH SỬ VIẾT HOA, tức tài liệu của ngoại quốc.

Và tài liệu của LỊCH SỬ KHÔNG VIẾT HOA, tức tài liệu của Việt Cộng. Phần lớn những tài liệu hiếm có này đã do người bạn trẻ của tôi, nhà văn Nguyễn Thế Khanh, cung cấp.

Bây giờ, tôi xin trở lại cuốn tiểu sử Hồ Chí Minh của tôi.
*
Một kẻ xuất thân từ gia đình nghèo mạt, đi ăn xin, thất học cu ly cu leo lưu manh đểu cáng, đã trở thành chủ tịch một nước và được nhiều sách vở Tây Phương ca tụng.

Đó là Hồ Chí Minh.

Phải nhìn nhận : Hồ Chí Minh thông minh và mưu lược. Rất tiếc : y là một tên vô lại, lưu manh, và cuối cùng phản bội dân tộc.

Quyển Le Prince của Machiavel và quyển Sử Ký Tư Mã Thiên ám ảnh tôi. Lưu manh, vô lại, đểu cáng tàn bạo là phương tiện. Và cứu cánh biện minh cho phương tiện.

Quyển Les Mains Sales của J. P. Sartre cũng một triết lý đó. Muốn thành công trong chính trị – nghĩa là muốn cướp được chính quyền – phải biết để cho bàn tay mình nhơ bẩn.

Quyển Les Mains Sales nói về trí thức trong hành động. Tôi nghĩ : Les Mains Sales có thể áp dụng cho bất cứ ai bước vào chính trị quyền lực, thứ chính trị bất chấp luân lý đạo đức. Có học cũng như vô học.

Hồ Chí Minh là một kẻ vô học, có lẽ vô học nhất trong hàng ngũ lãnh tụ trên thế giới. Nhưng lưu manh, đểu cáng tàn bạo, có lẽ cũng vào bậc nhất trên thế giới. Y đã chấp nhận để cho bàn tay của mình nhơ bẩn. Chẳng những nhơ bẩn, mà còn đẫm máu đồng bào ruột thịt. Mục đích : để đạt cứu cánh.

Câu hỏi đựợc đặt ra : y và đảng CSVN của y đã đem lại đuợc gì cho đất nước ?

Ba cuộc chiến tranh Đông Dương không cần thiết – đánh Pháp dành độc lập 1947-1954, chống Mỹ cứu nước 1969-1975, đánh Pol Pot 1979 – với hàng triệu người Việt Nam chết thê thảm và bị tàn phế. Hai cuộc đấu tố ruộng đất cực kỳ dã man, và một chế độ cai trị tàn bạo nhất trong lịch sử Việt Nam từ ngày lập quốc. Chưa kể cả một giang sơn gấm vóc bị tàn phá khủng khiếp. Chưa kể đời sống dân Việt Nam nghèo khổ nhất thế giới. Chưa kể con người Việt Nam bị xuất cảng làm lao nô ở nuớc ngoài. Chưa kể hàng trăm phụ nữ và em bé gái Việt Nam được xuất cảng đi làm nô lệ tình dục ở nuớc ngoài. Chưa kể cắt đất dâng biển cho Trung Cộng. Chưa kể một chế độ cai trị vô cùng tàn bạo đểu cáng trộm cắp mang tên Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Và chưa kể : hiện nay, Việt Nam vẫn là mảnh đất nghèo khổ nhất trên thế giới, với bọn cu ly cu leo Nông Đức Mạnh, Phan Văn Khải, Phạm Thế Duyệt Võ Văn Kiệt, Đỗ Mười, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, giầu có vào bậc nhất Đông Nam Á. Nhờ tham nhũng bóc lột.

Đó là công nghiệp của Hồ Chí Minh và đảng CSVN của y đối với Tổ Quôc VN.
*
Hồ Chí Minh là một tên đại lưu manh, đại bịp, đại đểu cáng. Và có bàn tay nhơ bẩn.

Ngoài ra, y còn là một tên hề mặt trơ trán bóng, cái mặt trơ trán bóng không tìm thấy nơi bất cứ một lãnh tụ nào trên thế giới, kể cả những tên tồi tệ nhất.
Quyển “Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch” của Trần Dân Tiên làm cho người đọc buồn nôn. Trần Dân Tiên là y, Hồ Chủ Tịch là y. Y kể chuyện Hồ Chủ Tịch, tức y kể truyện chính y. Y ca ngợi Hồ Chủ Tịch, tức y ca ngợi chính y. Sao trên đời lại có đưá vô liêm sỉ đến thế. Câu trả lời là : y là một tên vô học.

Tôi đã đọc tiểu sử Gandhi, Nehru, Tôn Dật Tiên, Ngô Đình Diệm ... Tôi cũng đã đọc tiểu sử Lenine, Staline, Hitler, Mao Trạch Đông.

Chính hay tà, đạo đức hay vô đạo đức, những tên tuổi nói trên không làm trò hề như Hồ Chí Minh. Dù sao họ cũng có học. Đang khi đó, Hồ Chí Minh là một đứa vô học.
*
Từ vô học đến đểu cáng vô nhân đạo vô ơn bạc tình bạc nghĩa, không xa. Tôi muốn nói đến vụï y đối xử với những người đàn bà đã hiến thân cho y, hoặc đã cưu mang y.

Vụ nàng Nguyễn Thị Xuân – hiến trinh cho y, và có con với y, bị Trần Quốc Hoàn hãm hiếp cực kỳ dã man nhiều lần, rồi sau đó bị giết thê thảm – đã không thể xẩy ra, nếu không có sự đồng tình mặc nhiên của Hồ Chí Minh.

Rồi vụ cụ Vũ Đình Huỳnh. Và vụ nhà văn Vũ Thư Hiên, tác giả “Đêm Giữa Ban Ngày – quyển sách gối đầu giừơng của tôi từ nhiều năm nay, cùng với quyển “Dắt Tay Nhau Đi Dưới Tấm Biển Chỉ Đường Của Trí Tuệ” của Hà Sĩ Phu.

Thời Pháp thuộc, cụ ông và cụ bà Vũ Đình Huỳnh đã nuôi Hồ Chí Minh trong nhà, bất chấp những hiểm nguy có thể xẩy ra. Riêng nhà văn Vũ Thư Hiên lúc bé từng được ngủ chung giuờng với Bác.

Và Hồ Chí Minh đã trả ơn như thế nào ?

Năm 1967, cụ ông Vũ Đình Huỳnh và nhà văn Vũ Thư Hiên bị còng tay đưa vào khám Hỏa Lò, người cha đi trước người con đi sau. Hồ Chí Minh đã không có được một lời hoặc một cử chỉ, can thiệp.

Cụ bà Vũ Đình Huỳnh đã không thèm đến kêu oan với Hồ Chí Minh, vì biết rằng kêu oan với một đứa vô ơn cũng vô ích.

Lịch sử nằm ở đó. Cái đẹp nằm ở đó. Và cũng nằm ở đó, cái tồi tệ đểu cáng mất dậy vô học mang tên Hồ Chí Minh.
*
Rất tiếc, Hồ chí Minh đã được một số chính khách tên tuổi ngoại quốc tiếp tay.

*
Ngoài những tên tuổi chính trị nói trên, những kẻ đã phản bội Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, và tiếp tay cho Hồ Chí Minh thôn tính Miền Nam Viêt Nam, còn những kẻ tự nhận là nhà văn hoá, là nhà viết sử. Họ cũng ca tụng và tiếp tay cho Hồ Chí Minh.

Tôi muốn nói : những Jean Lacouture, William J. Duiker, Bernard Fall, David Hamberstam, Stanley Karnow, William Burchett ..
.
Tôi đã đọc họ. Họ ca tụng Hồ Chí Minh. Tôi không trách họ. Nhưng tôi trách họ sau này không đủ trí tuệ để thấy mình sai và nhất là không đủ liêm sỉ để nhìn nhận mình sai.

Họ không đáng xách dép cho Nguyễn Mạnh Tường của “Un Excommunié”, cho những Arthur Koesler, Ignazio Silone, Louis Fisher của “The God That Failed”, cho Trần Dần của “Tôi bước đi, không thấy phố, không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ”, cho Hà Sĩ Phu của “Dắt Tay Nhau Đi Dưới Những Tấm Biển Chỉ Đường Của Trí Tuệ”, v.v...

Riêng Jean Paul Sartre, một thời đã cùng với Merleau Ponty, Raymond Aaron và Simone de Beauvoir hết lời ca tụng con đường cứu rỗi nhân loại của Liên Sô. Sau vụ Budapest (Hungary) 23/11/1956, Sartre đã tỉnh ngộ. Câu nói để đời của ông “Un anticommuniste est un chien” (thằng nào chống cộng sản, thằng đó là con chó) đã mặc nhiên trở thành “Un pro communiste est un chien”. (Thằng nào đi theo cộng sản, thằng đó là con chó).
Trí thức là ở đó.
*
Tôi đã từng tranh luận tại nhiều diễn đàn Liên Hiệp Nghị Sĩ Quốc Tế (Union Interparlemen- taire), trên thế giới. Tôi đã từng lớn tiếng nói lên chính nghĩa đấu tranh của Người Quốc Gia Việt Nam, đồng thời vạch mặt bọn chó đẻ cộng sản quốc tế và tay sai, trong đó có bè lũ Hồ Chí Minh.
*
Đêm nay, tóc bạc và xa quê hương, tôi viết tập sách nhỏ bé này, để lột mặt nạ Hồ Chí Minh và đảng CSVN của y. Đồng thời nói lên chính nghĩa đấu tranh của dân tộc Việt Nam, trước đây cũng như bây giờ.

Chính nghĩa đó, là : thiết lập một chính quyền mà cựu tổng thống Liên Sô Gorbachev đã định nghĩa là : “nảy sinh từ một cuộc tổng tuyển cử hợp pháp (legal) chánh đáng (legitimate) và lương thiện (honest).” Dĩ nhiên, cuộc tổng tuyển cử ấy phải được đặt dưới sự kiểm soát của Liên Hiệp Quốc, với sự hiện diện của báo chí quốc tế.

Đó là giải pháp duy nhất và cũng là điều kiện tiên quyết để đem dân tộc vào ổn định và đưa đất nước tiến lên.
*
Tôi viết xong tập sách nhỏ này đêm nay. Mái tóc bạc đối diện với lịch sử.

Trước mặt tôi là hai tấm ảnh đã cũ.

Tấm ảnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm bên cạnh ba người chiến sĩ QLVNCH hải lục không quân. Với lá cờ vàng ba sọc đỏ.

Và tấm ảnh các vị anh hùng đã tuẫn tiết cuối tháng Tư 1975 : tướng Lê Văn Hưng, tướng Phạm Văn Phú, tướng Trần Văn Hai, tướng Nguyễn Khoa Nam, tuớng Lê Nguyên Vỹ. Và đại tá Hồ Ngọc Cẩn. Với lá cờ vàng ba sọc.

(Riêng đại tá Cẩn, theo tôi được biết, đã bị Việt cộng đem ra xử bắn trước công chúng, vì bất khuất và nặng lời thoá mạ Việt Cộng).
Houston tháng 05/2006
Tháng kính Đức Mẹ Maria
Nguyễn Văn Chức

Sunday, May 20, 2007

Ngoài Bắc: Việt Minh gây cảnh nồi da xáo thịt



Sau ngày tuyên bố độc lập


» Tác giả : Hứa Hoành
» Dịch giả :
» Thể lọai: Thời Chinh Chiến
» Số lần đọc: 554


1. Sau ngày tuyên bố độc lập

Ngoài Bắc: Việt Minh gây cảnh nồi da xáo thịt

Vừa chiếm được chính quyền và ra mắt cái chánh phủ tự phong, công việc quan trọng nhứt của ông Hồ gồm: cầu phong với đồng minh; đút lót tiền bạc cho các tướng Tàu để họ không can thiệp; tiếp tục đi đêm thương thuyết với Pháp để có thì giờ khủng bố người quốc gia.

Công việc cầu phong với đồng minh để họ nhìn nhận “Việt Minh là tập họp các đảng phái quốc gia, đã từng tranh đấu bên cạnh đồng minh, chống Pháp, chống Nhựt.. Xin đồng minh nhìn nhận Việt Minh là đại diện duy nhứt và chính thức của dân tộc Việt Nam thất ba.i. Ông Hồ dàn cảnh để dân chúng đón tiếp phái bộ của thiếu tá A. Patti, đôn phái bộ nầy lên làm “phái bộ đồng minh đến nhìn nhận và thâm xã giao chánh phủ lâm thời”. Phái bộ không tới vì biết mình bị lợi du.ng. Việt Minh lại dàn cảnh đoàn biểu tình đến nhà riêng để phái đoàn ra đứng trước cửa cho họ chào.... Nhiều người biết việc ấy chỉ là một màn lừa bịp, nhưng một số lớn dân chúng vẫn chưa hiểu.

Mặt khác, các tướng Trung Hoa, đại diện đồng minh, đến tiếp thu và giải giới quân Nhựt từ vĩ tuyến 16 trở lên, đã bị ông Hồ đút lót tiền, vàng, để ông ta tự ý hành động mọi việc có lợi cho đảng cộng sản. Trong khi đó, Việt Minh vẫn đi đêm thương thuyết với Pháp để họ có thì giờ rảnh tay đàn áp, khủng bố những đảng phái quốc gia yêu nước. Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, trong hồi ký đã viết: “Đã nói chánh sách của Việt Minh là một chánh sách giả dối, lường ga.t. Còn là một chánh sách gây câm thù, một chánh sách bốc lột, một chính sách chém giết. Tất cả những chính sách xảo trá và tàn bạo của Việt Minh thấy ở mỗi hành vi, phân tích ra từng mục là một điều phức ta.p. Cho nên chỉ nói ra ít nhiều trường hợp, để có ít nhiều quan niệm” (Hồi ký Nguyễn Xuân Chữ, tr. 325).

“... Về tuyên truyền, có thể nói Việt Minh đã thắng thế. Qua tuyên truyền của Việt Minh phải nói là một sách lược cao độ, cả một nghệ thuâ.t. Cán bộ Việt Minh thường dựng đứng lên những chuyện có tính cách tốt đẹp, vẻ vang, có lợi cho họ, cho đảng, và dĩ nhiên dìm, hạ thấp đối phương. Dân chúng sẵn sàng tin, lại tán dương thêm vào. Về sau, những chuyện đơm đặt kia, dân cũng không cần xét đến thực hư, dẫu có biết chắc là không có, cũng sẵn sàng quên, rồi tin ngay một chuyện đồn khác.. “. Yêu nhau nên tốt” là thế. Mặc dầu Quốc Dân Đảng thời ấy, tung ra mấy tiếng gọi là một thành ngữ “nói dối như vẹm”, vẹm vẫn nói dối và vẫn lường gạt được dân. Dân chúng tin Việt Minh đến mức có thể nói như 'ăn phải bùá. Tất cả đã ủng hộ Việt Minh từ trước, hoặc mới theo, đều có một thái độ căm thù Quốc Dân Đảng. Chỉ phong thanh nghe nói những ai là Quốc Dân Đảng, không cần biết tông tích, thành tích, không cần biết tâm tình, không một mảy may suy nghĩ, gắn ngay cho những người ấy những tiếng “phản động”, “phản quốc” và muốn bắt giam ngay, muốn giết ngay.

Về chuyện giết lẫn nhau nghe thuật lại: hai lãnh tụ quan trọng Quốc Dân Đảng là Nguyễn Ngọc Sơn và Nguyễn Thế Nghiệp mà tôi có gặp mấy lần trong thời gian trước ngày Việt Minh đảo chính, đều bị cắt tiết ở Trèm Vẽ, xác trôi sông. Những vụ chôn sống, cũng được nghe kể lại, nay quên tên mất nhân vật và nơi chốn. Những vụ ám sát thì nhiều, kể một vụ là Nhượng Tống....

Nhưng riêng chuyện cắt tiết thì phương pháp tàn nhẫn đối với người như đối với loài vật vâ.y. Việt Minh không những thi hành ở thủ đô trong cuộc tranh đấu với Quốc Dân Đảng, mà còn thi hành ở các thôn quê trong công cuộc trừng trị những phần tử gọi là phản đô.ng. Ở đây, cắt tiết còn moi gan trong những trường hợp giết vì thù cá nhân.

Thời kỳ đầu, Việt Minh cầm chánh quyền, cán bộ còn thiếu súng đa.n. Chôn sống, cắt tiết dành những triê.u chứng căm thù, cũng còn là những phương pháp tiết kiệm đa.n. Lại một thủ đoạn nữa, tàn nhẫn bội phần là lấy búa bổ lên đầu người, như đồ tể bổ vào đầu vâ.t. Ngay hồi còn ở chiến khu mà Việt Minh cũng đã giết những người Việt hay Nhựt nghi ngờ, cán bộ chỉ dùng gươm, dao chém, hay búa bổ để khỏi phí đa.n.

Ngoài sự tranh giành thế lực, Việt Minh còn có những vụ tống tiền. Vụ tống tiền công khai và vĩ đại của Việt Minh là “Tuần lễ vàng”. Việt Minh lớn tiếng kết tội tội những người quốc gia là “phản quốc”, “Việt gian”, “phản động”, “thổ phỉ” mà cho tới nay chưa trưng được bằng cớ nào về những hành động mà họ đã phao vu, thêu dệt cho những người đã bị họ giết. Còn trong khi đó, Việt Minh lại xu phụng người ngoại quốc thì được gọi là... yêu nước! Thỏa thuận cho Pháp vào chiếm đóng các thành phố lớn trên đất Bắc, Việt Minh lại hô hào chống Pháp. Tiêu diệt tất cả các đảng phái quốc gia, Việt Minh hô hào “chỉ có một Mặt Trận Việt Minh”. Kẻ có chánh nghĩa, lại không biết kỹ thuật tuyên truyền như Việt Nam Quốc Dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (Việt Cách), dùng tờ báo sao trắng, vạch trần bộ mặt thật của Việt Minh là cộng sản, và Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc. cán bộ Đệ Tam cộng sản trá hình, thí ít được dư luận chú ý...” (Nguyễn Xuân Chữ, tr. 303).

Trong khi Hồ Chí Minh theo phái đoàn qua Pháp dự hội nghị Fontainebleau, thì ở nhà, đã ra mật lịnh cho Giáp tàn sát, tấn công tất cả trụ sở của Quốc Dân Đảng, Đồng Minh Hội... Võ Nguyên Giáp là kẻ chủ mưu bịa đặt, ngụy tạo, vu khống các vụ án Ôn Như Hầu, cầu Chiêm Sơn.... để thẳng tay tấn công các đảng phái tại Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Việt Trì, Hưng Hóa, Yên Báy, Phú Thọ tới sát biên giới Trung Hoa.

Ông Nguyễn Việt thuật lại: “...Riêng anh tôi, cùng một số đồng chí bị vây tại nhà ga xe lửa Việt Trì, và bị bắt sống trên trần nhà Hotel de la gare của cụ bà Lưu. Việt Minh giam tất cả trong nhà máy giấy Việt Trì, ngay đầu cầu Bạch Hạc, rồi đem ra bờ sông giết bằng lưỡi lê, xác bị vứt xuống sông mất tích. Nhiều người trốn thoát được trong vụ càn quét nầy biết rõ.. Tại Bắc Bộ Phủ, thư ký riêng của Phạm Văn Đồng, hiện sống ở Hà Nội, biết rõ vụ nầy. Cũng không ngờ, trong số bị giết, có người em chú bác ruột với mình. Biết cũng vậy, không biết cũng thế thôi, đối với người cộng sản không có nhân tình, cũng chẳng có nhân tính. Ai ở trong hàng ngũ Việt Minh, chỉ có một cách giải quyết duy nhất là giết, kể cả bố mẹ, anh em hay những người thân yêu nhất”.

“Tại Hải Phòng, khi rút lui, Việt Minh bắt dân chúng Hải Phòng phải tản cư sang Kiến An, đi bộ nườm nượp suốt ngày đêm cả tuần lễ. Đồng thời, khi tản cư, Việt Minh thực hiện kế hoạch nhằm vào 3 thành phần phải tiêu diê.t. Đó là:

- Việt gian: đối với những người nào trước kia đã làm việc cho Pháp. Trong lúc chạy loạn, ông thợ cắt tóc, gia đình chỉ có bộ đồ nghề dao cao, kéo, tông đơ và cái gương. Việt Minh nói “cái gương đó có thể làm ám hiệu cho phi cơ Pháp bỏ bom”. Ông thợ cắt tóc hiền lành vô tội, bị lôi ngay ra lề đường bắn bỏ tức khắc. Anh thanh niên mặc áo sơ mi trắng, quần xanh thợ máy, túi cày bút chì xanh đỏ, đúng là cờ tam tài của Pháp, bị cho là ám hiệu của bọn Việt gian, bị bắn ngay.

- Phản động: là thành phần không theo chúng như Việt Quốc, Việt Cách, công chức người Pháp, quan lại cũ, chánh tổng, lý trưởng.... nếu không chịu làm việc, tham gia các công tác như tự vệ, canh gác khu phố... đều bị ghép vào hai tiếng ‘phản động’.

- Thổ phỉ: để chỉ những người Hoa ở lại Hải Phòng, không chịu tản cư, mà treo ở trước nhà tấm bảng “Maison chinois” để tỏ ra trung lập, đứng ngoài cuộc chiến. Ngoài ra, khi thấy người Pháp vào nhà họ mua thức ăn, họ bị ghép tội “tiếp tế cho địch”.

“....Công việc đầu tiên của Việt Minh trong khi kêu gọi tản cư là phá nhà cửa ở tỉnh lỵ thành bình địa, phân tán mỏng lực lượng, nếu bị tấn công thì rút nhanh và bảo tồn lực lươ.ng. Ở vào trường hợp nầy, cái khó là làm sao đem theo và nhốt ở đâu một số lớn mà họ gọi là “Việt gian, phản động”? Sách lược cố hữu của Việt Minh từ xưa tới nay vẫn không thay đổi: đó là giải phóng, tức là “giết”. Bộ đội trong tiểu đoàn, chỉ cách trại giam có một bức tường. Đêm đêm nghe nhiều tiếng bốp bốp... tiếp theo là tiếng rên nhỏ và tiếng người ngã huy.ch. Toán tuần tiễu và canh gác tò mò, trèo lên tường nghe ngóng: một cảnh tượng hãi hùng diễn ra trước mắt. Tên Rộng, mặt rỗ, thường gọi là “Rộng rỗ”, đứng giạng chân, tay cầm búa tầm sét, nhấm ngay chính sọ người bị giam bổ mạnh như bổ củi. Nạn nhân bị bịt mắt, chỉ còn kêu được tiếng hự rồi ngả vật xuống đất. Vì số người bị giam quá đông, nếu giết không kịp, khi bị tấn công, nên tên Rộng la lớn:

- Không bịt mắt nữa! Không cần trói!

Thế là nạn nhân vừa bước ra, ngơ ngác, chưa kịp định thần nhìn sự thế bên ngoài, đã bị tên Rộng quai cho một búa vào sọ, ngã vật, dẫy giẫy và chết tươi....

Và cứ thế suốt đêm, xác người chồng chất cao như đống rạ, máu chảy lênh láng ngập sân. Sáng hôm sau, chúng xúc từng thùng đất đổ lên máu, rồi hốt đổ ngay lề đường, ngoài trại giam. Rồi máu đông thành cục với đất, ruồi nhặng bu đen. Bộ đội chạy tập thể dục buổi sáng, đến quãng đường nầy dội ngược trở lại, vì mùi xú uế xông lên nồng nă.c. Còn xác chết, chúng đào từng hố lớn ngay chân núi Cột cờ, sau trại lính khố xanh cũ. Vì quá vội vã, chúng lấp đất kín xác người cho xong chuyê.n. Qua này hôm sau, xác chết sình lên, đẩy mấy lớp đất mỏng bên trên, để lộ nguyên người, giò, cả chân, tay. Mùi hôi thúi tỏa đi khắp nơi thôn xóm lân câ.n. Không biết làm sao, chúng chất rơm phủ kín xác người và đốt. Đốt hết lớp nầy đến lớp khác, đến khi xác bị cháy xẹp xuống, chúng lấp đất la.i. Cảnh tượng đó được lập lại chôn hơn 14000 dân Huế vào dịp tết Mậu Thân”. (Hồi ký Nguyễn Việt, báo Lạc Việt).

Còn ở Trung Bộ, việc bắt cóc rồi thủ tiêu những nhân vật có uy tín, hoặc thuộc các đảng Việt Quốc... đều được thực hiện âm thầm, ít lộ liễu hơn. Chẳng hạn, trường hợp ông Phạm Quỳnh, bị cán bộ Việt Minh tới nhà mời đi họp vào buổi xế, rồi sau đó mất tích. Cùng bị giết với ông Phạm Quỳnh còn có ông Ngô Đình Khôi, một người con ông Khôi là Ngô Đình Huân và một người đàn bà cho tới nay chưa xác định rõ là ai: người đàn bà Bắc Bộ, ăn mặc theo lối Bắc. Bác sĩ Hồ Văn Châm còn kể lại nhiều vụ Việt Minh giết người ném đá giấu tay như trường hợp các ông giáo sư của trường Quốc Học Huế như: giáo sư Nguyễn Trung Thuyết, Đại Việt Quốc Dân Đảng bị Trần Việt Châu là trưởng phòng chánh trị sở công an Trung Bộ cho người bắt giữ vào một ngày cuối tháng 10/1946. Giáo sư Thuyết đang ngồi ăn cơm trưa với bác sĩ Bửu Hiệp, là xứ trưởng xứ bộ Trung Việt của Đại Việt Quốc Dân Đảng. Sau đó, thầy Thuyết bị đưa ra giam tại lao xá Đồng Hới, rồi bị Việt Minh giết. Thầy Ngô Văn Hân, thường viết bài cho báo Sống Mới của Phan Quang Bổng, cùng với thầy Phan Ngô xuất bản ở Huế tờ nhựt báo Dân Đen, đấu tranh đòi cải tổ dân sinh, dân chủ. Tất nhiên chỉ có cộng sản giết thầy và nhà cầm quyền đương thời cũng theo dõi, rình rập thầy dữ lắm. Thầy Ngô Văn Hân thuộc Quốc Dân Đảng, được sự hỗ trợ của thầy hiệu trưởng Nguyễn Hữu Thứ, lập ra “nhóm thứ năm”, qui tụ một số tí thức và nhân sĩ Huế, và các đệ tử ruột của thầy ở ban Tú Tài như các anh Lê Tuyên, Lê Văn, Nguyễn Văn Mừng, Thái Mộng Hùng, Âu Ngọc Hồ...

Hoạt động của “nhóm thứ năm” kéo dài nhiều năm, chỉ chấm dứt ít lâu sau khi thầy Ngô Văn Hân bị Việt Minh bắt ở Bàu Vá và xử bắn ở Nam Đông, vùng ngoại ô thành phố Huế! Nhóm Đại Việt Quốc Dân Đảng thành lập bởi Trương Tử Anh tại Hà Nội vào năm 1939 và nhanh chóng phát triển tại 3 kỳ. Xứ bộ Bắc Việt do bà cả tề (Đặng Thị Khiêm), Trung Việt có Bửu Hiệp và Nam Việt có Nguyễn Văn Hướng, tức em ruột bà bác sĩ Nguyễn Thị Sương. Cuối năm 1946, Việt Minh bắt và giết Trương Tử Anh, tấn công các chiến khu của Quốc Dân Quân, khủng bố trắng. Một người biết rõ thủ đoạn của Việt Minh là Lê Khang. Khang trước là đảng viên Đệ Tứ quốc tế, sau theo Việt Nam Quốc Dân Đảng, lãnh đạo ban chấp hành. Lê Khang có mặt trong buổi họp lịch sử của Quốc Dân Đảng tối ngày 18/8/1945 tại Hà Nội để thảo luận việc cướp chính quyền. Trong lúc lực lượng võ trang của Quốc Dân Đảng điều động từ chiến khu Lạc Triệu về tập trung tại trường tiểu học Hàng Kèn để đợi lệnh khởi nghĩa, thì các vị lãnh đạo Quốc Dân Đảng ngần ngừ, thiếu quyết đoán, ngại đổ máu, trừ một mình Lê Khang cương quyết chủ trương cướp chánh quyền ngay trong đêm. Những lý lẽ của Lê Khang đưa ra vô cùng xác đáng. Lê Khang cảnh cáo rằng Việt Minh sẵn sàng cấu kết với thực dân Pháp và với quân phiệt Tàu, để tiêu diệt những người cách mạng dân tô.c. Nếu để Việt Minh cướp chính quyền, họ sẽ trở mặt vu cáo người quốc gia là phản động, là Việt gian. Vì vậy Quốc Dân Đảng phải nắm chính quyền ngay, thu súng đạn của Bảo An Binh, tiếp nhận khí giới của quân Nhựt chứa trong kho Ngọc Hà để trang bị cho 3 sư đoàn quân cách mạng để làm chủ tình thế.

Tiếc thay, ý kiến của Lê Khang không được hội nghị chấp thuận, đại sự hỏng ngay từ bước đầu. Lê Khang bèn tức tốc lên Tam Lộng, phối hợp với Đỗ Đình Đạo, sáng ngày 22/8/45 cướp chính quyền Vĩnh Yên. Lê Khang làm chủ tịch chánh trị, bỏ chiến khu Vĩnh Yên, Đỗ Đình Đạo làm tư lệnh, Lê Thanh phụ tá, rồi mở rộng tiến lên các tỉnh Yên báy, Phú Thọ, Việt Trì, Lao Cay... Đầu năm 1946, Lê Khang được điều động về trung ương, đại diện cho Quốc Dân Đảng, công tác trong ban Liên Kiểm của chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến, cùng Trần Văn Giàu (?) đại diện Cộng sản đi các nơi dàn xếp các vụ xung đột võ trang giữa Việt Minh và Quốc Dân Đảng. Ít tháng sau, Lê Khang vào Thanh Hóa, giúp củng cố và mở rộng chiến khu Di Linh Bái Thươ.ng. Sau vụ Ôn Như Hầu, Lê Khang bị công an Cộng sản bắt giam ở Hỏa Lò, rồi đưa lên lao xá Phú Thọ, đến giữa năm 1947 thì bị thủ tiêu cùng với Phan Kích Nam và 11 đảng viên Quốc Dân Đảng khác. Một đời Lê Khang nhìn xa thấy rộng, gốc gác là cộng sản, biết quá rõ về cộng sản mà rút cục vẫn không thoát khỏi chết thảm dưới bàn tay của cộng sản! (Câu Chuyện Xoay Quanh Lá Cờ của Bác sĩ Hồ Văn Châm, báo Đi Tới).

Trong khi tìm cách tiêu diệt những người ngoài đảng Việt Minh, ông Hồ bắt đầu bí mật liên lạc với Pháp. Theo sự tiết lộ của Sainteny thì do sự dàn xếp của Hoàng Minh Giám, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và Hoàng Minh Giám đến gặp Sainteny, Salan và Pignon. Họ bí mật gặp nhau nhiều lần trong đêm, tại một biệt thự gần công trường Paul Bert. Hai bên thương lượng một hiệp ước để Pháp đổ quân vào Hà Nội và Hải Phòng, ngược lại chỉ nhìn nhận “Việt Nam là nước tự do”.

Một tuần sau (7/12/45), Pignon lại bí mật giao cho Hoàng Minh Giám một bản dự thảo hiệp ước sơ bộ mà Hồ đợi sau ngày thành lập chính phủ liên hiệp, mới dám ra mặt để ký kết vì sợ dân chúng chống đối. (Việt Nam Niên Biểu, Chính Đạo, tr. 291). Sau đó Pignon vào Saigon báo cáo những cuộc gặp gỡ bí mật với Việt Minh cho Cao Ủy D'Argenlieu. Cao Ủy Pháp đồng ý gặp Hồ Chí Minh trên chiến hạn Richelieu đậu ở ngoài khơi Đồ Sơn. Lúc đó, chính phủ Liên Hiệp vừa trình diện quốc hội và được phê chuẩn. Ông Hồ công khai thương thuyết với Pháp, không còn đi đêm nữa.

Cụ Trần Trọng Kim kể lại: “Khi chính phủ Pháp ký hiệp ước với chính phủ Trung Hoa rồi mới trù tính đem quân ra Bắc Bộ. Cao cấp ủy viên nước Pháp lúc ấy là D'Argenlieu, có ra vịnh Hạ Long, mời ông Hồ Chí Minh xuống tàu nói chuyê.n. Ông Hồ đi với ông Nguyễn Tường Tam, bộ trưởng ngoại giao và mấy người khác nữa. Xuống dưới tàu, chỉ một mình ông Hồ được vào buồng nói chuyện, còn mọi người đứng ở ngoài. Xong việc nói chuyện ở dưới tàu chiến rồi, cao cấp ủy viên là ông Sainteny thay mặt để lên Hà Nội cùng với Hồ Chí Minh và Vũ Hồng khanh... ký tờ hòa ước mồng 6/3/46”. Rõ ràng ông Hồ thương lượng riêng với Pháp, không cho bất cứ ai biết. Khi xong việc, ông nhân danh chính phủ Liên Hiệp ký vào hòa ước. Ông mời Vũ Hồng Khanh ký phó thự, để cùng chia xẻ trách nhiê.m. Trong lúc Hồ đi đêm thương thuyết với Pháp, dư luận biết Hồ “bán nước”, nên dân chúng biểu tình, do Việt Nam Quốc Dân Đảng tổ chức, để chống lại Hồ Chí Minh. Đoàn biểu tình cũng yêu cầu Bảo Đại lên cầm quyền (Việt Nam Niên Biểu, Chính Đạo, tr. 308).

Hiệp ước sơ bộ vừa ký kết, phía Viêt Minh cho là “thắng lợi”, bắt dân chúng lên tỉnh khiêng về huyện, rồi từ huyện khiêng về xã, về thôn để “học tập”.

Tuy nhiên, đó chỉ là một sự bán nước trắng trơ.n. giặc thập thò trước cửa, Hồ ký hiệp ước rước giặc vào tận trong nhà. Việt Nam Quốc Dân Đảng thấy rõ âm mưu của Hồ, nên lại hô hào dân chúng biểu tình rầm rộ tại nhà hát lớn, chống Hồ Chí Minh. Hồ phải sai Phạm Văn Đồng tới giải đô.c. Hồ còn thề thốt “Hồ Chí Minh nầy không bán nước đâu” (Việt Nam Niên Biểu, tr. 321).


Nam Bộ: 3 tuần độc lập bánh vẽ, Việt Minh phá nát lực lượng kháng chiến.

Ba tuần độc lập bánh vẽ ở Nam Bộ (2/9 tới 23/9/45) cũng như một năm độc lập dưới chế độ quân quản của các tướng Lư Hán, Tiêu Văn, Việt Minh đã gây cảnh cốt nhục tương tàn, phá nát thế đoàn kết kháng chiến, cuối cùng chỉ còn một lực lượng duy nhứt là Việt Minh, tức cộng sản trá hình. Việt Minh bôn đào, trốn mất dạng, mặc cho quân Pháp tung hoành chiếm lại lãnh thổ mà họ đã mất. Cuộc chiến tranh kỳ lạ, diễn ra hàng ngày, hàng giờ giữa những người lãnh đạo và những kẻ đồng chiến tuyến. Về ngoại giao, Việt Minh thất bại hoàn toàn. Không một nước đồng minh nào nhìn nhận Mặt Trận Việt Minh hay Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ, cũng như Chính Phủ Lâm Thời tự phong ở Bắc Bộ.

Chiếm ngụ tại dinh Norodom Nam Kỳ (dinh Độc Lập sau nầy), Trần Văn Giàu và Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ, tức chính phủ lâm thời của ông ta, ra lịnh “chuẩn bị tiếp đón phái bộ đồng minh”. Lâm Ủy ta thông cáo:

“Dân chúng phải cộng tác với chính phủ tổ chức lễ “đón tiếp phái bộ đồng minh thật long tro.ng. Mỗi nhà, mỗi công sở hay tư nhân phải treo đủ 4 lá cờ đồng minh: Anh, Pháp, Nga, Mỹ....trong đó lá cờ VN treo ở giữa. Ngoài đường phố, các biểu ngữ giăng khắp các ngã tư, ngã ba đường lớn:

- Hoan hô phái bộ đồng minh!

- Độc lập hay chết!

- Thà chết còn hơn nô lệ!

Ngày 3/9, đại diện Pháp và Việt Minh họp tại Sàigòn. Phía đồng minh có Henry Brain, cố vấn cho tướng Gracey, đã nói với phái đoàn Việt Minh do bác sĩ Phạm Ngọc Thạch cầm đầu:

- Người Anh không nhìn nhận chính phủ do quân thù (Nhựt) tạo nên. Lâm Ủy Hành Chánh Kháng Chiến Nam Bộ không phải là một chính phủ hợp pháp do toàn dân bầu ra, do đó không đại diện cho toàn dân Nam Bộ.

Theo nhận xét của đồng minh, thì mối quan tâm của Lâm Ủy Hành Chánh là tìm cách tiêu diệt tất cả các đảng phái, khuất phục mọi sự chống đối việc làm của họ, để tỏ ra Việt Minh có đủ khả năng giữ trật tự khi đồng minh tới.

Ngày 6/9/45, đại tướng Gracey, đại diện tổng tư lịnh đồng minh ở Đông Nam Á là Lord Mounbatten tới Sàigòn. Ông ta nhân danh đồng minh, nắm quyền chỉ huy từ vĩ tuyến 16 trở xuống phía Nam. Ngày hôm sau, không biết hai bên có hop mật như thế nào, đột ngột Lâm Ủy Hành Chánh ra lịnh khiến dân chúng hoang mang: “giải tán các tổ chức dân quân chống Pháp”. Ủa sao lạ vậy? Mọi người ngơ ngác hỏi nhau câu ấy. Lịnh của Trần Văn Giàu nói rõ: “Đối với những ai đã kêu gọi dân chúng võ trang chiến đấu chống lại phe đồng minh (ý nói chống Pháp) sẽ bị coi là phá hoại và sách đô.ng.” Lúc nầy Pháp và Việt Minh còn hưu chiến (1 tuần, đến ngày 10/10/45). Pháp cần thời gian chờ viện binh tới. Việt Minh cần thời gian để loại những người quốc gia ngoài đảng Việt Minh. Cả hai bên gặp nhau chỗ đó, mới có sự hưu chiến. Lần lượt nhiều chiến hạm Pháp chở viện binh tới Sàigòn. Trong khi đó, nhiều máy bay của Pháp bay qua không phận Sàigòn, thả truyền đơn đe do.a. Tình trạng chiến tranh có vẻ nguy cấp thêm.

Ngày 12/9, có thông cáo của phe Trotskyist công khai tố cáo Việt Minh phản bội chính trị, đang tìm cách thương thuyết với Pháp và nhận những điều kiện gần như đầu hàng, trước sự đe dọa tấn công của quân Anh Pháp. Ngày hôm sau 13/9, tướng Gracey ra lịnh đuổi Ủy Ban Hành Chánh ra khỏi dinh Norodom (Dinh Toàn quyền cũ). Liền ngày ấy, hồi 4:30 phút, Dương Bạch Mai, thanh tra chính trị miền Đông, chỉ huy một nhóm thanh niên cứu quốc bao vây trụ sở của nhóm Đệ Tứ quốc tế CS, đang nhóm đại hô.i. Trong lúc giặc Pháp khiêu khích, Việt Minh chỉ lo khủng bố những người cùng chung chiến tuyến. Mặc dầu quân số đông, võ khí đầy đủ hơn, nhưng phe Đệ Tứ chịu để bị Việt Minh bắt. Việt Minh tịch thu súng trường, tước súng lục (súng cá nhân), cướp trụ sở, lấy đi nhiều tài liệu như máy đánh chữ. Dương Bạch Mai còn ra lịnh cho nhóm cứu quốc dưới quyền của y đập phá bàn ghế, xé cờ Đệ Tứ CS, đốt tài liệu, sách báo.....chỉ vì phe Trotskyist muốn tránh đổ máu nên không kháng cự.

Sau khi thi hành cuộc khủng bố nầy, Trần Văn Giàu tuyên bố bắt đầu tàn sát phe Trotskyist ở Nam Bộ. Lần lượt, các thành viên phe Trotskyist đều sa lưới CS đệ tam.

Người ta còn nhớ, trong cuộc biểu tình mừng độc lập 2/9, chẳng những Giàu cho biểu dương lực lượng bằng 4 sư đoàn dân quân như là một sự thách thức đối với thực dân Pháp mà cũng kích thích lòng dũng cảm của toàn dân khi quân đồng minh tới, đồng thời cũng làm nản chí nhóm Trotskyist khi nhóm nầy kêu gọi dân chúng võ trang. Rồi cũng do lịnh Dương Bạch Mai, phóng thích những người Pháp bị bắt trong cuộc biểu tình ngày 2/9 để hòa hoãn với Pháp, đặng rảnh tay đối phó với người quốc gia. Lịnh phóng thích nầy làm cho dân chúng hoang mang, nghi ngờ thái độ của Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ. Chẳng những thế, Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ còn ra lịnh thật động trời: “Cấm mang võ khí như dao găm, mã tấu hay tầm vông vạt nhọn, súng trường....ngoa.i trừ dân quân và các toán an ninh, tự vệ của Lâm Ủy Hành Chánh.

Trong khi Việt Minh nhượng bộ Pháp, nhóm Đệ Tứ quốc tế tổ chức một cuộc biểu tình trước chợ Bến Thành, rải truyền đơn kêu gọi tăng cường các ủy ban nhân dân và võ trang quần chúng chống bọn đế quốc dù mang nhãn hiệu phát xít hay dân chủ.

Trong cuộc biểu tình nầy, nhiều biểu ngữ và khẩu hiệu nhằm chống áp bức, bất công xã hội như:

- Chia đất cho dân cày

- Công nhân làm chủ xí nghiệp

- Độc lập cho Đông Dương.

Trước vụ này, nhóm Đệ Tứ bị phản ứng từ hai phía Việt Minh và Pháp:

Báo Dân Chúng của Việt Minh tố cáo nhóm Trotskyist là Việt gian, xúi giục dân chúng làm loa.n.

Phía đồng minh và Pháp ra lịnh cho thống chế Terauchi phải chịu trách nhiệm giữ trật tự, tức phải dẹp các đám biểu tình như vậy (4/9).

Phái bộ đồng minh tới Sàigòn, Việt Minh vẫn tiếp tục bắt bớ, khủng bố nhóm Trotskyist, bắt một số lãnh tụ Hòa Hảo, rồi kết tội họ: âm mưu đảo chánh chính phủ tức Lâm Ủy Hành Chánh. Lý do nhóm Trotskyist trưng bằng chứng Giàu làm mật thám cho Pháp.

Ngày 7/9/45 tin Tạ Thu Thâu bị bắt ở Quảng Ngãi được lan truyền ở Sàigòn. Tin này được dán trước tòa soạn báo Tranh Đấu tại ngã tư đường Garros và Lagrandière. Nhóm La Lutte thách thức Trần Văn Giàu về vụ nầy, Giàu trả lời: vụ Tạ Thu Thâu bị bắt ở Quảng Ngãi không có liên quan gì tới Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ. Ủy ban hành chánh Quảng Ngãi không có quyền xét xử Tạ Thu Thâu. Cũng ngày đó, báo Cờ Giải Phóng của Việt Minh tại Hà Nội kêu gọi: “Phải triệt hạ ngay bọn Trotskyist. Lý do thầm kín vụ nầy là do ông Hồ. Vũ Thư Hiên viết:

“Ông Phạm Ngọc Thạch, trong một câu chuyện vui tại nhà tôi hồi đầu thập niên 1960 nói với ông Dương Bạch Mai:

- Mấy chả không ưa mầy, vì mầy thẳng như ruột ngựa, nghĩ sao nói vậy, mầy làm mấy chả mếch lòng, mới lòi cái vụ mầy hợp tác với đám Tờ-rốt-kít ra mà rêu rao.

- Thì mầy cũng bị mấy chả rêu rao là có thời chơi thân với Nhật đó thôi. Chơi với Tờ–rốt-kít thì mẩy cũng có chơi chớ bộ.

Dương Bạch Mai cười ngất:

- Nè, cẩn thận, sổ đen của mấy chả có ghi thêm vô chớ không có xóa đâu nghen!

“Theo cha tôi, thái độ của những người lãnh đạo CSVN đối với những người Tờ-rốt-kít là không thể hiểu đươ.c. Họ có thể đoàn kết với bất cứ ai khác, trừ những người Tờ-rốt-kít, thậm chí cả những hành động cụ thể chống lại nhà cầm quyền thuộc địa” (Hồi ký Vũ Thư Hiên)

Để giải thích thái độ bất cộng đới thiên nầy, người ta dẫn ông Hồ Chí Minh: “Đối với bọn Tờ-rốt-kít không thể có một thỏa hiệp hay nhân nhượng nào cả. Phải lột mặt nạ chúng như là tay sai của phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị” (trích báo cáo của ông gởi Quốc Tế CS cuối năm 1939).

Quả ông Hồ có viết như vâ.y. Lập trường cứng rắn này của ông, được những người nghiên cứu tiểu sử ông giải thích bằng sự cần thiết: phải thanh minh trước một quốc tế đa nghi, dưới sự chỉ đạo của Stalin sắt thép.

Hồi ấy, quốc tế nghi ngờ lập trường cách mạng vô sản của ông Hồ, cho rằng nó không vững chãi. Ông cần sự ủng hộ của quốc tế cho mục đích giải phóng dân tộc hay cần tiền để sống qua ngày trong khi còn lang bạt nơi đất khách quê người, mà quốc tế là nguồn cấp đó?

Trở lại việc đồng minh tới Sàigòn gặp đại diện của Trần Văn Giàu. Đột ngột Giàu theo lịnh của đồng minh, ra lịnh: Đại bản doanh quân Nhựt có lịnh buộc Lâm Ủy Hành Chánh phải giải giới 4 sư đoàn mới thành lập vội vã ngày 29/8/45. Theo Giàu thì nhóm, Đệ Tứ biểu tình trước chợ Bến Thành, đòi võ trang dân chúng chiến đấu, tạo cơ hội cho ngoại quốc cướp đoạt chủ quyền của VN. Lại một lần nữa, Giàu đổ tội cho phe Đệ Tứ. Đối với Việt Minh, sách lược của họ cũng kỳ lạ: Khi giành được quyền hành, đánh không được thì đàm. Hòa đàm thất bại, bị dồn vào thế gần như đầu hàng thì lại đổ tội cho nhóm Đệ Tứ. Tại sao Việt Minh cầm quyền lại đổ tội cho kẻ khác khi đồng minh và Nhựt ra lịnh giải tán quân dân? Đó là thủ đoạn của Việt Minh.

Nhắc lại Hoàng Quốc Việt, Cao Hồng Lãnh, nhận lịnh ông Hồ, tức tốc vào Nam đảo chánh Trần Văn Giàu. Nhiệm vụ bí mật của Việt và Lãnh là củng cố sự lãnh đạo của đảng CS miền Bắc. Họ mở phiên họp tại dinh thống đốc Nam Kỳ. Ngoài mặt, họ làm bộ cải tổ Lâm Ủy Hành Chánh, mời nhiều nhân vật đối lập, bên ngoài đảng tham gia, làm ủy viên hoặc cố vấn, có mục đích cầm chân họ để tiêu diê.t. Đây là một thủ đoạn thâm độc, gian hùng của Việt Minh thời kháng chiến.

Chính Hoàng Quốc Việt (tên thật là Hà Bá Cang) là người được đảng CS miền Bắc cử theo dõi Tạ Thu Thâu khi Thâu về tới Quảng Ngãi. Khi Hoàng Quốc Việt và Cao Hồng Lãnh vừa lên đường, ông Hồ liền phái một nhóm binh lính trung thành với ông ta lên đường vào Nam để tăng cường quyền hành cho Việt và Lãnh, đề phòng phe miền Nam chống lại phe miền Bắc. Đó là các đạo quân Nam tiến Quang Trung, và một toán 72 khóa sinh mới tốt nghiệp khóa 4 quân chính vào Nam Bộ ngày 4/10/45. Các đoàn quân Nam tiến ấy với danh nghĩa là giúp dân Nam Bộ đánh Pháp. Độc giả có thấy sự khôi hài, giả tạo ở chỗ đó? Nam Bộ đâu thiếu nhân lực, tài lực, vật lực để kháng chiến mà phải nhờ đến Bắc chi viện? Bí mật lịch sử đó ít người biết. Sự thật, toán quân Nam tiến nầy chỉ bảo vệ quyền lợi của phe CS miền Bắc. Trong phiên họp cải tổ Lâm Ủy ngày 8/9/45, Việt và Lãnh chọn sẵn một nhân vật gốc đại điền chủ ở Trà Vinh, có vợ đầm là luật sư Phạm Văn Bạch làm chủ tịch Ủy Ban Hành Chánh......Ủy ban mới cải tổ nầy gồm:

- Chủ tịch: Luật sư Phạm Văn Bạch

- Ủy viên quân sự: Trần Văn Giàu

- Ngoại giao: Phạm Ngọc Thạch

- Nội vụ: Nguyễn Văn Ta.o.

Các ủy viên: Ngô Tấn Nhơn, Hoàng Đôn Văn, Nguyễn Văn Nghiêm, Huỳnh Văn Tiểng, Từ Bá Đước.

- Dự khuyết: Phan Văn Hùm (không nhận) Trần Văn Nho, Nguyễn Văn Thủ.

- Cố vấn đặc biệt: Huỳnh Phú Sổ

(Tài liệu của Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu, trang 260).

Hồi đó rất ít người biết thủ đoạn của Việt Minh. Họ rất quỷ quyê.t. Ngoài mặt Việt Minh luôn kêu gọi đoàn kết, liên hiệp, hợp tác, nhưng bên trong tìm cách ám sát, bắt cóc, thủ tiêu. Đường lối của Việt Minh là làm mọi cách độc chiếm chính quyền. Tạm giấu biệt bộ mặt thật CS, ông Hồ giả vờ giải tán đảng Cộng Sản Đông Dương, nhưng vẫn duy trì và gia tăng sự lãnh đạo của đảng, nhứt là Nam Bộ. Khi mạnh, đánh được, thì phao vu, rồi trở mặt, tàn sát, tiêu diê.t. Khi yếu thế, đánh không được thì liên hiệp, đoàn kết. Ban ngày hợp tác trong các ủy ban, ban đêm tới mời họp, rồi thủ tiêu mất tích, cách làm việc của Việt Minh ở đâu cũng giống nhau. Khi Pháp mở cuộc tấn công, nhiều người tản cư về hậu phương, bị Việt Minh chận bắt, rồi kết tội là Việt gian rồi cho mò tôm. Chiến dịch dã man nhứt là thời gian 10 ngày hưu chiến trong tháng 10/45, Việt Minh gieo ác mộng kinh hoàng cho những người yêu nước, nhưng không chịu theo Việt Minh. Những ai không theo Việt Minh là Việt gian. Những ai không tản cư cũng là Việt gian. Chưa bao giờ dân ta trở thành Việt gian nhiều như dưới thời Việt Minh!

Theo tài liệu của Nam Đình, trong phiên họp cải tổ Lâm Ủy Hành Chánh do Hoàng Quốc Việt đóng kịch, có nhiều người đề cử các ông Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm, luật sư Dương Văn Giáo (Lập hiến)......làm ủy viên. Đây không phải là thiện chí của Việt Minh, muốn mở rộng thành phần chính phủ, mà chỉ là một thủ đoạn, một cái bẫy để lừa các nhân vật trên tham gia, cầm chân họ, để tới nhà bắt và giết đi. Sau khi phiên họp giải tán, nội tối đêm đó, Trần Văn Giàu liền trở mặt cho bao vây trụ sở Phật Giáo Hòa Hảo tại đường Miche để bắt đức Thầy Huỳnh Phú Sổ. Nhân chứng vụ nầy là cụ An Khê Nguyễn Bính Thinh thuật lại như sau:

“...và một đêm, Mười Bạch, cảnh sát quận 1 do luật sư Huỳnh Văn Phương bổ nhiệm nhận được lịnh quái gở là đánh úp vào trụ sở Phật Giáo Hòa Hảo ở đường Miche. Mười Bạch có chịu ơn đức Thầy Huỳnh Phú Sổ. Khi ra khỏi khám Sàigòn, anh đến tá túc tại chỗ ở của vị giáo chủ Hòa Hào và đức Thầy có biệt nhãn với anh.

Đêm ấy, Mười Bạch cố tình tập họp quân lính trễ hơn nửa tiếng đồng hồ, và bí mật báo tin cho đức Thầy biết. Vì thế khi quân Việt Minh bao vây và tấn công vào ngôi nhà lầu của tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, không tìm được đức Thầy ở đâu, chỉ bắt được vài trăm tín đồ. Mới liền hiệp hồi sáng, thì tối bao vây, tấn công, đánh úp. Đó là thế đoàn kết của Việt Minh!

Ngày 12/9/45, Giàu ra lịnh giải tán các bót cảnh sát, bỏ trống, trả võ khí cho Pháp. Các bót chánh ở mỗi quận có 15 súng trường, 25 súng lục trái khế, các bót phụ thì có 7 súng trường, 15 súng lục trái khế. Khi bị các cảnh sát trưởng chất vấn, Giàu trả lời:

Chánh phủ đang điều đình với Pháp để tìm một giải pháp khỏi đánh nhau, khỏi đổ máu. Muốn tỏ thiện chí, ta trả cho Pháp các thành lính, các bót cảnh sát cùng võ khí. Rõ ràng Việt Minh ở Bắc và Nam Bộ đều có chung một chính sách: Hòa hoãn với kẻ thù để tiêu diệt anh em trong nhà.” (Thư riêng của cụ An Khê).

Tình hình chiến tranh càng ngày thêm bộc phát. Được viện binh, Pháp khiêu khích khắp nơi. Vừa tới Sàigòn, quân Anh Ấn liền chia nhau chiếm lại các ngân hàng, ngân khố, phi trường, thương cảng, nhà đèn Chợ Quán, sở lọc nước...Việt Minh phản ứng yếu ớt rồi giao các cơ sở ấy cho Pháp, Anh.

Ngày 16/9/45, Ủy Ban Hành Chính dời về Tòa Đô Chánh, vì trụ sở tại dinh Norodom bị Anh chiếm la.i. Trong tình trạng lâm nguy tới nơi, Ủy Ban Hành Chánh ra thông cáo nhằm vào anh em, gây chia rẽ: Chính Phủ Lâm Thời Nam Bộ đang dự bị lập ủy ban điều tra mỗi tỉnh, mục đích xem xét và tố cáo bọn phản quốc. Bọn nầy sẽ bị tòa án nhân dân trừng trị, tài sản của họ sẽ bị tịch thu, ruộng đất của họ sẽ bị lấy lại và chia cho dân nghèo. Thông cáo này được đăng báo ngày 8/9/45 vì kể từ khi Việt Minh nắm chính quyền, báo chí Việt ngữ đặt dưới quyền điều khiển của Mai Văn Bộ, cán bộ tuyên truyền của Việt Minh. Đây là một thủ đoạn vừa ăn cướp vừa la làng, vừa vu khống họ vừa đán áp. Tiếp theo là một phong trào khủng bố lan tràn khắp nơi. Những ai đối lập với Việt Minh đều bị thủ tiêu bí mâ.t. Một cơ hội để Việt Minh trả thù. Những người biết các hành vi chỉ điểm của Trần Văn Giàu và đồng bọn sẽ bị bắt cóc, dẫn đi trong đêm tối và không bao giờ trở về.

Ngày 17/9/45,Ủy Ban Hành Chánh của Phạm Văn Bạch ra lịnh đình công: cấm bán hàng cho Pháp, cấm bồi bếp phục vụ cho Pháp. Ai làm việc đó sẽ bị coi là phản bội, là Việt gian. Sàigòn bắt đầu tê liê.t. Tại các nhà hàng, khách sạn, không có bồi bàn. Trên đường phố không còn xe xích lô, cu li. Bến tàu vắng ngắt. Mọi sự giao thông trên đường phố đều ngưng hoạt đô.ng. tình trạng nghiêm trọng thêm....

Trước tình trạng ấy, tướng Gracey ra lịnh mở cửa khám lớn Sàigòn, phóng thích tất cả những người Pháp bị Việt Minh bắt giữ vì tình nghi trong cuộc biểu tình ngày 2/9/45. Đồng thời Cédille võ trang cho 1400 tù binh Pháp bị Nhựt cầm tù mới được thả. Sở dĩ Cédille vừa chân ướt chân ráo tới Sàigòn mà lạc quan như vậy nhờ tiếp xúc với luật sư Béziat, chủ đồn điền cao su, Bazé....là những tên thực dân hạng nặng ở Sàigòn lâu năm. Ông Nam Đình kể lại:

“Hai người nói cho Cédille biết rằng: Việt Minh là CS, họ đã đứng cạnh Nhựt chống Pháp. Bây giờ đại tá cứ võ trang quân đội Pháp. Súng nổ là họ chạy hết. Chúng tôi biết người Việt nhiều. Cương quyết là họ chạy liền.

Cédille làm sao hiểu được lòng dân lúc bấy giờ? Ông ta cũng chẳng biết gì về phong trào kháng chiến của toàn dân Nam Bộ có một lời thề: Thà chết chớ không chịu nô lệ!.

Ngày 19/9/45, Cédille tổ chức một buổi họp báo. Bây giờ nhiều ký giả Anh, Mỹ, Pháp có mặt tại Sàigòn, nhứt là đoàn viết báo Pháp. Cédille tuyên bố:

- Việt Minh không phải là đại diện dân chúng VN. Họ không có đủ lực lượng để giữ trật tự an ninh ở Sàigòn. Quân đội Pháp sẽ đứng ra tái lập trật tự. Khi trật tự vãn hồi, Pháp sẽ thành lập cho VN một chánh phủ theo bản tuyên ngôn 24/3/45. Hai ngày sau, 12/9/45, đại tướng Douglas Gracey chỉ huy quân đội Anh Ấn ra lịnh:

- Cấm các báo Việt ngữ.

- Xử tử bất luận những kẻ nào âm mưu phá hoa.i.

Nghe lời Pháp, đại tướng Gracey làm cho dư luận quần chúng xôn xao. Gracey liền ra thông cáo số 1, dán khắp nơi.

“1. Quan đô đốc Lord Louis Mounbatten, tổng tư lịnh các đạo quân đồng minh tại Đông Nam Á, đã giao quyền cho ta là đại tướng D.D. Gracey, cai quản tất cả quân đội (Anh, Pháp và Nhựt) cùng các đội bảo an và quân đội khác.

2. Mọi người phải hiểu rõ rằng: ta nhất định sẽ dùng các phương pháp trung lập đến triệt để, đặng mà thi hành sự trần thuật ôn hòa trong thời kỳ giao thời giữa buổi chiến tranh và lúc hòa bình.

3. Thay mặt cho quan Tổng Tư Lịnh quân đội đồng minh, ta báo cho tất cả dân chúng phải hợp tác một cách triệt để mà thực hành cái mục đích đã nói trên. Luôn đây ta báo cho những kẻ bất lương, nhứt là trộm cướp...biết rằng: chúng sẽ bị tử hình ngay.

4. Những lịnh sau đây sẽ thi hành lập tức:

a/ Không được phép tổ chức một cuộc biểu tình và cuộc biểu diễn nào hết.

b/ Không được hội họp đâu hết.

c/ Không được mang võ khí bất kỳ là thứ nào, cho đến gậy, giáo, tầm vông vạt nhọn...trừ ra quân đội Anh và đồng minh và các quân đội nhà binh hay là Bảo An, có ta cho phép riêng mới đươ.c.

d/ Thiết quân luật theo lịnh ta mà nhà binh Nhựt đã buộc ở trong châu thành Sàigòn - Chợlớn từ 21 giờ rưỡi cho đến 5 giờ rưỡi sáng, sẽ còn thi hành và quang soát một cách nghiêm nhă.t.

Saigon, le 19 Septembre 1945

Ký tên: D. D. Gracey

Quan Tổng Tư Lịnh Quân đồng minh

đóng ở miền Nam Đông Dương.

Thông cáo nầy ký ngay, nhưng đến 21/9/45 mới dán ra khắp nơi cho dân chúng đọc và hiểu.

Với lực lượng viện quân, quân Pháp mới được thả từ khám tù, võ trang, khuya đêm 22 rạng 23/9/45, Pháp tung ra chiếm lại các công sở, các bót cảnh sát, công an dễ dàng vì Ủy Ban Hành Chánh của Việt Minh đã bỏ chạy từ trước. Tuy vậy, dân quân Sàigòn vẫn tiếp tục ở lại chiến đấu.

Các ông Trần Văn Ân, Kha Vạng Cân, Hồ Văn Ngà thành lập Ủy ban phong tỏa Sàigòn Chợlớn. Việt Minh đã cao bay xa chạy ra Bình Điền, Chợ Đệm, rồi xuống Mỹ Tho.....mặc cho dân quân tự túc chiến đấu. Lực lượng quốc gia tự vệ của Nguyễn Văn Trấn được lịnh lùng sục hàng đêm, bắt cóc các nhân vật yêu nước, ngoài đảng Việt Minh, hoặc không chịu theo Việt Minh, rồi phao vu cho họ là Việt gian để xử tử một cách lén lút.

Trước ngày bỏ chạy xuống Hậu Giang, Ủy Ban Hành Chánh còn ra lịnh cho tất cả dân chúng chuẩn bị kháng chiến. Tản cư những ông già, bà cả và trẻ em, phụ nữ ra khỏi thành phố. Cùng ngày 20/9/45, Gracey gởi giác thư cảnh cáo Phạm Văn Bạch không dung thứ bất cứ hành động tẩy chay hay đình công nào.

Thứ bảy 22/9/45, quân Pháp chiếm nhà tù, bưu điện, ty cảnh sát ở Sàigòn. Trung tá Rivier được lịnh trang bị hoàn tất cho 12 đại đội của trung đoàn 11BB thuộc đi.a. Tờ mờ sáng ngày 23/9/45 Gracey bãi bỏ lịnh giới nghiêm và coi như toàn thắng. Khoảng 20.000 Pháp kiều có mặt ở Sàigòn xuống đường ăn mừng chiến thắng nầy bằng cách sỉ nhục và hành hung bất cứ người Việt nào họ gặp trên đường phố.

Phía Việt Minh lấy ngày 23/9/45 làm ngày bắt đầu của Nam Bộ kháng chiến. Đó là ngày toàn dân miền Nam nhứt tề đứng dậy theo tiếng gọi của non sông. Họ tạm quên thù nhà, quên những tội ác của Việt Minh đã giết các người yêu nước vì khác chính kiến. Chỉ trừ những gia đình có thân nhân bị giết lúc tản cư, được vài tháng, thấy không thể sống với Việt Minh, nên quay trở la.i. Từ đó có phong trào hồi cư. Ngoài Bắc sau 19/12/46, có phong trào Dinh tê, ta gọi về thành.

Một nhân chứng lịch sử, ông Ngô Văn kể lại những chi tiết:

“Tối, hồi 4:30 khuya đêm 22 rạng 23/9/45, Ủy Ban Hành Chánh đã rút khỏi Sàigòn từ trước. Tiếng súng bắt đầu im bặt lúc 6 giờ rưỡi sáng. Tờ báo Daily Telegraph, phóng viên người Anh tường thuật vụ nầy như sau: “Đêm 22/9 quân Pháp đã khủng bố và săn đuổi người Việt (lúc đó gọi là Annam). Họ bắt được hàng trăm người Việt, cho quỳ gối, đưa hai tay lên đầu ở phía trước tòa đô chánh, trước nhà bưu điê.n. Đây là hành động nhục mạ mà thực dân Pháp cố ý gây ra để trả thù người Viê.t.

Đêm 23/9/45, theo báo thì “Sàigòn nổi loạn toàn diện”. Trên nhiều đường phố, cây cối bị đốn ngã ra đường làm chướng ngại giao thông. Phong trào dân chúng nổi dậy lan qua các khu Khánh Hội, Cầu Kho, Bàn Cờ, Phú Nhuận, Tân Định, Thị Nghè và các khu vực đông dân quanh Sàigòn. Nhiều toán dân quân tấn công để cố chiếm lại thương cảng Sàigòn. Sáng sớm ngày 24/9, quân Anh bắt đầu lục soát những nhà ở trung tâm Sàigòn Chợlớn. Còn các thủy thủ lục soát khu vực quanh bến tàụ”

Đột ngột, chiều 24/9, dân quân Sàigòn mở cuộc phản công quân Pháp. Hồi ký Trần Tấn Quốc viết:

“Sáng ngày 24/9 tình hình Sàigòn khá yên tĩnh, nhưng xế chiều, tình hình thay đổi hẳn. Một đội dân quân tiến theo đường Verdun (Lê Văn Duyệt trước năm 1975) tràn vào trung tâm Sàigòn, chiếm chợ Bến Thành, kéo thẳng đến đại lộ Bonard (Lê Lợi), xả súng bắn vào các vị trí của Pháp. Mặt khác nhiều đội dân quân (ổ kháng chiến từ Xóm Chiếu) vượt qua cầu Ông Lãnh, đổ bộ lên Sàigòn, tiến vào đại lộ De La Somme (Đường Hàm Nghi). Súng nổ khắp nơị”

Đại tướng Gracey họp báo cho biết:

Lúc ấy không có lấy một ngọn đèn. Trong cảnh tăm tối ấy, mọi người đều tự hỏi những gì đã xảy ra, những gì sẽ xảy đến, và mọi người đặt cho Gracey nhiều câu hỏi dồn dâ.p. Xa xa, nhiều đám lửa rực trời. Một cảnh tượng kinh hoàng bao trùm nhà hàng Continental. Rất đông đàn bà trẻ em Pháp lánh nạn tại nhà hàng. Ở đây không còn một miếng nước, không có một tia sáng đèn điện, chốc chốc lại được tin người Pháp nầy, người Pháp nọ chết. Những tin làm điên đầu cứ truyền ra. Tiếng súng nổ không ngớt, làm rối loạn thần kinh. Khi ấy dân quân chiếm đóng tất cả các khu vực ngoại ô. Gracey không muốn để xảy ra chuyện lớn, nhưng tránh làm sao khỏi dùng võ lực?

Qua đêm 25, chợ Bến Thành vẫn cháy rực trời. Hăng máu, Việt Minh cho Ba Nhỏ, một tên du đãng khát máu, chỉ huy một toán quân tấn công cư xá Herault ở Tân Định, giết hàng trăm người Pháp, kể cả đàn bà, trẻ con. Báo chí Pháp phẫn nộ về vụ nầy và gọi Việt Minh là bọn dã man. Vụ nầy gây nhiều tiếng vang ở ngoại quốc. Từ đó thề: “Lột da bọn Annamite”.

Buổi sáng ngày 26/9, thiếu tá Dewey, trưởng toán Embarkement bị giết tại chợ Sàigòn vì lịnh của Hoàng Quốc Việt muốn trả thù bất cứ người da trắng nào.

Vì cái chết này mà ông Hồ phải viết thư xin lỗi chính phủ Mỹ, và sau đó Hoàng Quốc Việt bị triệu hồi về Bắc.

Nhân chứng lịch sử Trần Văn Ân kể lại:

“Ngày 16/9/45, chúng tôi gồm Nguyễn Văn Sâm, Trần Văn Ân, Kha Vạng Cân, Hồ Văn Ngà lập ủy ban phong tỏa Sàigòn, Chợlớn...

Một buổi sáng nọ, ở Chợlớn, vùng Lò Gốm, Kha Vạng Cân chạy tới nơi chúng tôi ở trọ, nhà anh Nguyễn Bá Tường, quản lý hãng thuốc lá Bastos, bảo:

- Anh Sâm, anh Ân, hai anh nên lánh mặt lập tức. Đêm qua bỗng dưng anh Hồ Văn Ngà đã bị bắt....Thế rồi chúng tôi lánh mặt, bỏ ủy ban phong tỏa đô thành......”

Trên các ngả đường, còn nhiều người lũ lượt tản cư. Các đường tỏa ra ngoại ô như Thủ Đức, Lái Thiêu, Hốc Môn, Bình Chánh, Chợ Đệm đều đông nghẹt những chiếc xe bò, xe ngựa, xe đạp thồ......chở đầy những rương, tráp, đồ vật cần thiết.....đoàn người

ra đi trong hỗn loa.n. Dưới sông, ghe xuồng, tam bản nườm nượp chở đồ tản cư... Đi đâu? Mọi người ngơ ngác hỏi nhau: Mạnh ai nấy đi. Đi đâu cũng được, miễn ra khỏi cái thành phố đang khói lửa ngút trời. Ai có thân nhân ở miền quê thì về quê, ai không có vẫn cứ đi......

Trong khi đó, suốt ngày 25/9, nhiều trận đánh dữ dội giữa quân Pháp và dân quân để tranh giành chiếm các đầu cầu như trận Cầu Kiệu, một địa điểm trên rạch Thị Nghè. Vào lúc nửa đêm 24/9, một đại đội hỗn hợp quân Anh Pháp từ Tân Định kéo xuống Cầu Kiê.u. Họ chia làm 2 cánh: từ đường Paul Blanchy (Hai Bà Trưng) và từ Bến Tắm Ngựa, tức phía trước đường Mac Mahon (sau nầy là Công Lý). Hai bên chọn hai đầu cầu làm ổ kháng cự. Giữa lúc tình thế chiến đấu sôi nổi, không thấy một tên Việt Minh nào, chỉ có dân quân, thanh niên tự nguyện chiến đấu và hy sinh, không cần biết họ thuộc thành phần nào. Trận đánh Cầu Kiệu diễn ra hai ngày ác liê.t. Vì võ khí thô sơ, quân kháng chiến phải rút về Gò Vấp, rồi qua An Phú Đông. Sở dĩ mặt trận Cầu Kiệu còn cầm cự được 2 ngày là nhờ toán binh sĩ Nhựt rã ngũ yểm trợ.

Dưới cờ Đệ Tứ quốc tế, các toán dân quân chiến đấu gồm những công nhân võ trang đã đánh những trận lớn đầu tiên ở Dakao, Bàn Cờ, Cầu Kho, Ngã Sáu, Chợ Quán, Vĩnh Hội, Chánh Hưng, Cây Quéo (Gia Định), Gò Vấp, Nhà Bè.....với sự tham gia của dân quân tự nguyê.n. Không thấy một bóng dáng Việt Minh Cộng Sản nào, dù là ở cấp chỉ huy. Lúc nầy, Chủ tịch Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ, Hoàng Quốc Việt, Cao Hồng Lãnh, đại diện chính phủ trung ương đã chạy xuống tới Sóc Trăng (24/9).

Riêng mặt trận Thị Nghè, trong số 214 chiến sĩ, có đến 210 người đã hy sinh (Ngô Văn). Vào ngày thứ ba của trận đánh (28/9). Ủy Ban Hành Chánh còn ra lịnh bằng truyền đơn: “giải giới các toán dân quân kháng chiến thuộc nhóm La Lutte, đang đánh nhau với Pháp mà không có lịnh của Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ. Rõ ràng, Việt Minh chỉ muốn giành độc quyền lãnh đạo, chớ không chịu chiến đấu.

Tại Gò Vấp, bất chấp lịnh của Ủy Ban Hành Chánh, một toán dân quân gốc công nhân trạm xe điện, do Liên đoàn Cộng sản quốc tế Đệ Tứ tổ chức gồm 60 người, tự động nổi dậy chống Pháp. Nhóm nầy có khoảng 400 hoặc hơn gồm công nhân xe điện thuộc Tổng công đoàn, một bộ phận do Giàu lập ra để kiểm soát lực lượng công nhân. Lực lượng này chống lại việc mang cờ Việt Minh và lực lượng công nhân cứu quốc do Việt Minh chỉ huy. Người cầm đầu tổ chức nầy là Trần Đình Minh, do công nhân bầu lên, đã chiến đấu dưới cờ Đệ Tứ quốc tế (Ngô Văn). Tổn thất đầu tiên của nhóm Đệ Tứ Cộng sản quốc tế là

- Hồ Văn Đức, một thợ may góc Mỹ Tho

- Trần Văn Nghị, thuộc nhóm cảm tử quân, chết tại An Phú Đông.....

Một nhân chứng lịch sử kể lại:

“Những vị trí khác như Cầu Bông, trạm xe điện, cầu Thị Nghè....đêm đêm có lính gác, bắn cầm canh khi thấy thấp thoáng xa xa có bóng người, chớ không phải Việt Minh tấn công như họ đã rêu rao đánh cả trăm tên lính Pháp.

Vì bóng dáng những tên lính gác cầu Thị Nghè thường làm cho Ủy Ban Hành Chính tỉnh Gia Định Nguyễn Văn Chiêu lo sợ Pháp đánh úp, nên ra lịnh cho Ủy Ban rút về cù lao An Phú Đông ở Gò Vấp cho an toàn......”

Đêm đêm, pháo binh của Pháp từ phía Tân Sơn Nhứt bắn vèo vèo trên đầu dân Hạnh Thông Tây, trước khi rơi, nổ ầm ầm trên cù lao An Phú Đông. Rồi một buổi sáng, bến đò An Phú Đông, ngày thường tấp nập kẻ qua người lại, trở nên vắng như chùa bà Đanh, vậy có nghĩa là Ủy Ban Hành Chính tỉnh Gia Định đã bỏ An Phú Đông, chạy tuốt qua Lái Thiêu rồi lên Thủ Dầu Một mất da.ng. Chiến thuật chuồn êm, đem con bỏ chợ, làm bia đỡ đạn tiếp diễn khắp nơi ở Nam Bộ......

Chỉ huy các toán dân quân và thợ thuyền võ trang thuộc liên đoàn Cộng sản quốc tế Đệ Tứ không được, các lực lượng võ trang Việt Minh đe dọa tiêu diệt, chặn đánh họ, làm cho tàn quân của Đệ Tứ quốc tế phải rút về phía Đồng Tháp Mười. Ở đây, nhóm nầy được Đệ Tam sư đoàn của Nguyễn Hòa Hiệp che chở. Ông Nguyễn Hòa Hiệp là lãnh tụ VNQĐD đang phản đối Việt Minh Cộng Sản độc tài. Trong cuộc bôn đào nầy, quốc tế Đệ Tứ còn mất thêm các đồng chí:

- Chị Quý, một nữ y tá, các anh Đồng, Thiê.u.

- Trần Văn Thanh, Nguyễn Văn Hương, Trần Quốc Kiểu và 6 đồng chí khác từ các đồn điền cao su Tây Ninh tới......

Một đoàn quân của Liên đoàn Cộng sản quốc tế Đệ Tứ khác, rút về Thủ Đức gồm:

- Nguyễn Văn Lịnh, Lê Ngọc

- Nguyễn Văn Nam, Ngô Văn Xuyết. Tác giả Ngô Văn đã gặp họ tại ấp Tân Lộ. Lúc nầy một toán Việt Minh đã có mặt tại Thủ Đức từ 26/9/45. Mục đích của họ là săn đuổi, chặn bắt các tổ chức chống Pháp ngoài Mặt Trận Việt Minh để tiêu diê.t. Bạn đọc thấy cung cách lãnh đạo kháng chiến của Việt Minh như thế nào?

Trước tình thế lưỡng đầu thọ địch, các đồng chí (lời Ngô Văn) kể trên phải võ trang để tự vệ trước hai kẻ thù Pháp và Việt Minh. Cuối cùng toán nầy cũng phải dàn quân chiến đấu để rút lui về Đồng Tháp Mười, chiếm các khu sình lầy ở đây làm cứ điểm. Ngô Văn Xuyết bị Việt Minh bắt và xử bắn ngay bên bờ sông Vàm Cỏ tháng 10/45. Người ra lịnh bắn Ngô Văn Xuyết là một thầy giáo làng, tên Trọng, được Việt Minh cử làm chủ tịch Ủy Ban Hành Chánh tỉnh Tân An 1 tháng trước. Ngô Văn Xuyết bị bắt giam chung với một nhóm độ 30 người tình nghi, trong đó có một người đàn bà điên, tối ngày cứ chửi tên Tro.ng. Người đàn bà này bị Trọng kết tội vô lễ, sau đó cũng bị bắn. Khu vực các nạn nhân nầy bị giam trước khi xử bắn là một thánh thất Cao Đài, ven sông Vàm Cỏ Tây. Lần đó, cả 30 người tình nghi đều bị bắn. Lúc bị giam chung trong thánh thất, qua một tấm vách ngăn mỏng, đêm đêm người ta nghe tiếng rên la thảm thiết của một nông dân nghèo bị Việt Minh kết tội gián điê.p. Sự thật anh ta trở lại nhà đào khoai cho con ăn, sau đó anh bị tra tấn, cuối cùng bị đâm chết một cách hết sức dã man.

Sau đó, Việt Minh chuyển tác giả Ngô Văn tới một ngôi nhà lợp lá tại Sông Xoài (Xoài hột?), đã biến thành trại giam. Tại đây, tác giả Ngô Văn gặp lại các đồng chí, trong đó có cô Thu, người đã giám sát việc phân chia ruộng đất cho nông dân. Tất cả những phần tử chánh trị bị Việt Minh bắt giam, đều bị một tên CS từ Côn Đảo về kết tội và tử hình: Trần Đình Minh bị bắn ngày 13/1/46 tại Mỹ Lơ.i. Các công nhân Lê Ngọc, Lê Kỳ, Lê Văn Hương bị Việt Minh ám sát vì tội Việt gian tại Hốc Môn.

Trong suốt tháng 10/45, Việt Minh lợi dụng thời gian hưu chiến từ 2 tới 10/10 mặc sức lùng sục như chó săn, tìm kiếm, săn đuổi những nhóm chiến đấu ngoài tổ chức của họ, những nhân sĩ, trí thức yêu nước, khác chính kiến, các lãnh tụ những đảng phái quốc gia, Cao Đài, Hòa Hảo, Trotskyist...đều lần lượt sa lưới Việt Minh. Tại miền đông lúc nầy Dương Bạch Mai đã có mặt tại Biên Hòa, chỉ huy cuộc lục soát, chặn bắt các trí thức tản cư để giam riêng, chờ ngày giờ thuận tiện để thủ tiêu. Ở miền tây, đặt dưới quyền sanh sát của Nguyễn Văn Tây (Thanh Sơn), cán bộ từ Côn Đảo mới về, cùng với Phạm Hùng coi vùng Mỹ Tho. Tại Sàigòn Chợlớn, có Nguyễn Văn Trấn, hung thần ác quỷ, đã sát hại rất nhiều nhà yêu nước như Bùi Quang Chiêu, Lê Quang Liêm......Vào năm 1945, tôi có nghe đồng bào nhắc lại (lời ông Dương Đình Lôi) cơ quan quốc gia tự vệ cuộc của ông Bảy Trấn đóng tại ngã ba giáp nước, kinh xáng Lý Văn Mạnh đổ ra sông Chợ Đê.m. Ba tôi nói hầu hết các vụ giết người là do cơ quan nầy tự động làm, không thông qua Ủy Ban Hành Chánh. Họ coi như có quyền hành riêng biệt để sanh sát bất cứ ai. Vì vậy, thời bây giờ các điền chủ, tư sản, có người bỏ cơ nghiệp trốn về thành ẩn trú. Nhiều ông phủ, ông huyện (hàm) thời Tây có đất đai, nhà máy cũng phải ngả theo cách mạng, cho con em theo kháng chiến, hoặc bản thân họ đỡ đầu cho vệ quốc đoàn trong những năm đầu kháng chiến để được yên thân. Nhưng nhiều nơi, con đi kháng chiến, họ vẫn về nhà sát hại người cha như thường......Lúc bấy giờ Việt Minh có một chính sách nghi ngờ những viên chức làng xã, hương chức hội tề cũ, sợ những người này sẽ ngã theo Pháp khi Pháp trở lại, nên họ giết trước để trừ hậu hoa.n. Có một điều, cho tới nay ai ai cũng biết là thời đó, các Ủy ban kháng chiến hành chánh gồm những người yêu nước thật sự, nhưng bọn Việt Minh Cộng Sản sử dụng họ như những tấm bình phong, để che đậy tội ác, đồng thời lôi cuốn các thành phần khác trong xã hội theo khẩu hiệu đại đoàn kết toàn dân bịp của Hồ Chí Minh........ (thư riêng cho tác giả).

Trong một đoạn hồi ký, bác sĩ Trần Nguơn Phiêu có kể lại:

“Khi cuộc cách mạng tháng 8 khởi sự ở Nam Bộ, thì một số thanh niên vùng Gia Định, xuất thân từ các trường Sàigòn, Chợlớn tập hợp lại trong tổ chức Thanh Niên Học Sinh Tân Bình. Pháp tái chiếm Sàigòn với sự tiếp tay của quân Anh. Mặt trận Tân Bình tan vỡ khi Pháp phá được vòng vây về phía Gia Đi.nh. Một phần các anh em di chuyển về Biên Hòa. Sau đó, một số gia nhập đoàn tuyên truyền lưu động của Đặng Ngọc Tốt để về miệt Hậu Giang.

Khi quân đội Anh, Pháp tiến chiếm Biên Hòa thì thành phần chính trị và quân sự Việt Minh được điều động cấp tốc đi vào khu. Thành phần du kích địa phương, trong đó có Mã, được chỉ thị ở lại đánh trì hoãn để bộ phận lớn rút đi an toàn. Khi quân Anh Pháp bắt đều mở rộng vòng vây, thì những dữ kiện mới làm cho Mã có những ý nghĩ băn khoăn. Giáo sư Trần Văn Quế cũng như những nhà ái quốc khác bị đày Côn Đảo được về đất liền. Sau đó thầy được cứ làm cố vấn cho viên chủ tịch Ủy Ban Hành Chánh tỉnh Biên Hòa. Vị nầy tất nhiên là một người của đảng CS, miệng thì thao thao giáo điều, nhưng chữ nghĩa rất kém. Việc gì cũng phải hỏi ý kiến nhân vật cao cấp là Dương Bạch Mai, ủy viên thanh tra chính trị miền Đông, đại diện cho Trần Văn Giàu, chủ tịch Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ.

Khi cơ quan hành chánh sắp phải rời tòa hành chánh tỉnh, thì phần đông các người trí thức, nhân sĩ, giáo viên.....bi. tập trung đưa đi trước, vì Việt Minh lo sợ họ có thể cộng tác với Pháp. Tình cờ khi đi chích thuốc, Mã được nghe người thân tín của viên tỉnh ủy hỏi:

- Cố vấn thì sao?

Y trả lời:

- Thì cứ thi hành lịnh của anh Mai đối với tụi trí thức.

Mã cấp tốc báo với giáo sư Quế, thì giáo sư ngao ngán trả lời:

- Qua cảm ơn em. Thiệt các anh đệ tam lúc nào cũng vâ.y.

Sau đó, giáo sư tìm cách trở về thánh địa Tây Ninh. Sau này gặp lại giáo sư Quế (1972) nói: “Trước kia qua được làm cố vấn ở Biên Hòa vì người ta (Việt Minh) muốn cầm chân, không để qua về được Tây Ninh mà thôi”. Trong những người bị tập trung thời đó, còn có ông Phan Văn Hùm, một nhân vật chính trị danh tiếng miền Nam.....

Những sự kiện trên cũng như nhiều diễn tiến sau nầy, đã giúp Mã nhiều kinh nghiệm để không còn tin tưởng ở người CS. Miệng họ thì hô hào đoàn kết quốc gia để chống Pháp, nhưng trong lòng thì chủ trương phải tiêu diệt những thành phần yêu nước có thể có khả năng lãnh đạo khác ho..”

Một đoạn khác, bác sĩ Trần Nguơn Phiêu kể: Một hôm, anh trưởng đoàn thanh niên cấm trại đi hội về, bí mật thông báo cho anh em thân tín là sẽ có cuộc nổi dậy chống và yêu cầu anh em chuẩn bị góp sức. Với lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ, mặc dầu chưa biết phong trào sẽ do đoàn thể nào khởi xướng, nhưng anh em vẫn bắt tay phân công lo nhiệm vụ nổi dậy vùng Sàigòn, Chợlớn. Hăng hái nhứt là anh Trần Thanh Nhàn....... Phần tổ chức võ trang là anh Trần Thạnh Mâ.u. Anh Mậu người làng Vĩnh Lợi, Gò Công, có nhiệt tâm với đất nước, thường bàn với anh em nội trú về tương lai VN trong giờ chiều sau buổi ho.c. Khi Việt Minh cướp chánh quyền ở miền Nam, anh thuộc những thanh niên tiền phong đã góp sức, nhưng đã bị CS đem xử tử ở sân vận động Gò Công cùng nhiều thanh niên trí thức, và ông Nguyễn Văn Thành, giáo sư sử địa trường Pétrus Ký. Lý do thầm kín là vì thuộc thành phần trí thức, hăng hái nhưng hay chỉ trích CS địa phương. Đảng Tân Dân Chủ bấy giờ có phái Đặng Ngọc Tốt từ Sàigòn đến can thiệp, nhưng không hiệu quả. Tốt chỉ còn có khóc và ôm anh em trước giờ hành quyết mà thôi. Về sau chính Đặng Ngọc Tốt cũng bị Việt Minh hãm ha.i. (ghi chú của tác giả). Hồi đó vùng Sàigòn, Chợlớn do Nguyễn Văn Trấn là trùm công an, núp dưới mỹ từ tự vệ, muốn bắt muốn tha hay giết tự quyền. Ông Bùi Quang Chiêu đã bị quốc gia tự vệ cuộc của ông Trấn tới bắt tại nhà, rồi đem giết cùng với 3 người con trai của ông Chiêu tại Chợ Đê.m. Chúng tôi sẽ có một bài viết riêng về cái chết của ông Bùi Quang Chiêu, do chính người con gái của ông là bà Renée Bùi thuật la.i. Luật sư Hình Thái Thông, đang chủ tọa một phiên họp các đại biểu làng, tổng liên tỉnh, liền bị Việt Minh bao vây và bắt đi. Nội trong đêm luật sư Hình Thái Thông bị Thanh Niên Tiền Phong dẫn di hạ sát bằng cách chôn sống tại Quơn Long, Chợ Gạo trước khi Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ rút vào Đồng Tháp Mười. Trước khi chôn sống, luật sư Thông bị mổ bụng một cách dã man, rồi chôn chung vào một hầm tập thể, còn nhiều tiếng rên la thảm thiết. Theo tác giả Ngô Văn, chánh phủ VN khám phá được hầm nầy để tìm hài cốt nạn nhân, trong đó có ông Hồ Văn Ngà (?).

Theo bác sĩ Trần Nguơn Phiêu: riêng trường hợp ông Hồ Văn Ngà thì bị giết nguội về sau, khi ông bị giam ở Kim Quy, Đá Ba.c. Cùng bị giam với ông Hồ Văn Ngà có ông Trần Quang Vinh, một nhân sĩ Cao Đài danh tiếng. Ông Nguyễn Thành Phương và Vũ Tam Anh tổ chức phá khám để giải thoát hai ông Vinh và Ngà, nhưng chỉ cứu được ông Trần Quang Vinh, Hồ Văn Ngà hôm đó được một cán bộ giữ khám là học trò cũ mời về nhà dùng cơm. Ông Ngà sau đó bị giết ở Hòn Đá Bạc.......

......Ông Hồ Văn Ngà đã nói với những người giết ông: Giết thì giết nhưng đừng kêu “qua” là Việt gian!

Sau đó còn một nhóm thuộc Đệ Tứ quốc tế tiếp tục chiến đấu với Pháp ở Chợlớn, rồi rút về Chợ Đệm, bị tự vệ của ông Trấn giải giới, rồi mất tích luôn. Hồi tháng 8/9/45, Chợ Đệm là một trung tâm giam giữ và hành quyết của Việt Minh. Ông Trấn dùng chành lúa của Võ Lợi Trinh làm khám nhốt những người bị Việt Minh bắt vì tình nghi, vì sợ uy tín của họ hay vì ngăn ngừa họ tranh giành quyền bính với Việt Minh. Đêm đêm có tiếng rên la thảm thiết vì bị Việt Minh tra tấn dã man, khiến cho dân chúng Sàigòn, Chợlớn nghe nói đến Chợ Đệm phải rùng mình. Chúng tôi sẽ trở lại việc nầy trong một bài khác.

Hứa Hoành

Đỗ Tuấn Hải sưu tầm (ĐTNHV)

Cựu đại tá Bùi Tín nói về ông Hồ Chí Minh


2007.05.18
Trà Mi, phóng viên đài RFA

19/5 năm nay đánh dấu 117 năm ngày sinh c Hồ Chí Minh, vị lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản Việt Nam. Công luận trong và ngoài nước từ lâu đã xuất hiện hai luồng nhận định khác nhau về ông. Một bên cho rằng Hồ là một anh hùng vĩ đại, còn một bên lại tố cáo ông có tội với dân tộc, gây đau thương cho biết bao nhiêu người.

Bấm vào đây để nghe cuộc phỏng vấn này
Tải xuống để nghe

Ông Hồ Chí Minh vào năm 1950. AFP PHOTO
Để tìm hiểu thêm về nhân vật lịch sử này, Trà Mi trao đổi với cựu đại tá Bùi Tín, từng là đảng viên với hơn 4 thập niên tham gia Đảng cộng sản và 37 năm góp mặt trong Quân đội Nhân dân. Với các trọng trách đựơc Đảng giao phó như Phó tổng biên tập báo Quân đội nhân dân và báo Nhân Dân, cũng như Tổng Biên tập báo Nhân dân Chủ Nhật, ông Bùi Tín từng có nhiều dịp tiếp xúc, gặp gỡ với Hồ Chủ tịch.

Ngoài ra, do mối quan hệ mật thiết giữa thân phụ của ông với lãnh tụ Hồ Chí Minh, nên ông cũng có cơ hội được biết khá nhiều về cụ Hồ. Ông cũng chính là tác giả của rất nhiều tác phẩm viết về cuộc đời và sự nghiệp của nhà cách mạng nổi tiếng này. Trước tiên, ông Bùi Tín nêu lên nhận xét chung về Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Cựu đại tá Bùi Tín: Ông Hồ Chí Minh là một nhà chính khách, một nhân vật lịch sử mà hiện nay trong và ngoài nước có những đánh giá trái ngược hẳn nhau.

Một số người ca ngợi ông ta đến mức như thần thánh, như một con người tuyệt đối không bao giờ có sai lầm. Trong khi đó, cũng có những người xem ông ta là một nhân vật tiêu cực và gây ra những tàn phá ghê gớm cho đất nước.

Đạo đức, nhân cách

Trà Mi: Là một người từng sống và làm việc theo lý tưởng HCM, ông nhận xét như thế nào về tư tưởng HCM, về đạo đức, nhân cách của cụ Hồ?
Càng về sau, ông Hồ càng trở thành một nhân vật thực hiện sứ mạng do quốc tế cộng sản giao cho, tức là gây dựng và phát triển phong trào cộng sản ở Việt Nam, Đông Dương, và mở rộng chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á. Con đường ấy, theo tôi bây giờ, đó là con đường sai lầm, đưa đất nước vào tình hình khó khăn sau này.

Cựu đại tá Bùi Tín

Cựu đại tá Bùi Tín: Sự đánh giá của tôi về ông Hồ là cả một quá trình thay đổi khác nhau. Trước đây khi còn ở trong nước thì khác. Dần dần, qua sự so sánh và nghiền ngẫm thì cách nhìn của mình trở nên đúng mức hơn, công bằng và khoa học hơn.

Tôi coi ông ta không phải là thần thánh, chỉ là một con người bình thường như mọi người khác, tức là cũng có ưu điểm và khuyết điểm, có những đóng góp tích cực và tiêu cực. Về tư tưởng, nhiều người cho rằng ông ta không phải là một người yêu nước. Còn tôi, tôi khẳng định ông ta là một nhân vật yêu nước, nhất là thời trẻ của ông.
Theo tôi, khi ông Hồ sang Pháp năm 1911 lúc đầu không phải vì mục đích đi tìm đường cứu nước. Lúc bấy giờ ông ta gặp phải một bi kịch gia đình. Ông cụ là tri huyện Bình Khê vì đánh chết nông dân nên bị đuổi ra khỏi ngành quan lại, tha phương ở phía Nam. Mất chỗ dựa, ông Hồ quyết định ra đi tìm kế sinh nhai và giúp đỡ gia đình.

Nhưng đến khi sang Pháp, khi tiếp xúc với nhóm các ông như Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, cụ Phan Chu Trinh, lúc ấy, tôi nghĩ ông ta là người yêu nước, nhất là khi ông ta đứng ra làm tờ báo Những người cùng khổ, bảo vệ những người dân thuộc địa để chống thực dân Pháp, tôi cho rằng hành động này là trên lập trường yêu nước.

Thế nhưng cho đến khi ông sang Maxcơva năm 1924, trở thành nhân vật của đệ tam quốc tế cộng sản, thì tôi nghĩ, lúc ấy ông vẫn là một người yêu nước, nhưng không phải là một người yêu nước theo chủ nghĩa quốc gia, mà theo chủ nghĩa cộng sản.
Càng về sau, ông Hồ càng trở thành một nhân vật thực hiện sứ mạng do quốc tế cộng sản giao cho, tức là gây dựng và phát triển phong trào cộng sản ở Việt Nam, Đông Dương, và mở rộng chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á. Con đường ấy, theo tôi bây giờ, đó là con đường sai lầm, đưa đất nước vào tình hình khó khăn sau này.

Ví dụ như cho đến nay, dân tộc Việt Nam ta còn quá lạc hậu về mọi mặt, từ mức sống, nhân quyền, dân quyền. Tôi nghĩ cái đó thuộc về trách nhiệm của ông Hồ rất lớn, vì đã nhầm lẫn đem một học thuyết từ Liên Xô cũ về áp dụng đến gần nửa thế kỷ nay. Bây giờ, học thuyết này đã đựơc chứng minh bằng thực tế rõ ràng là chủ nghĩa cộng sản, về mặt lý luận, xây dựng một xã hội tốt đẹp không có người bóc lột người chỉ là ảo tưởng thôi.

Chủ nghĩa cộng sản bây giờ, ở ngay nơi cốt lõi của nó là Liên Xô, cũng đã sụp đổ. Ở một loạt các nước Đông Âu, nó cũng hoàn toàn bị tan rã. Tại Việt Nam, theo chủ nghĩa này, một lý luận đựơc ông Hồ nói nhiều nhất là Việt Nam bỏ qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa đến tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội.

Trải qua nửa thế kỷ, sau khi ông Hồ mất rồi thì đảng cộng sản mới thay đổi hẳn lại, tức là từ bỏ việc tiêu diệt tư nhân, tư hữu để quay trở lại với kinh tế thị trường, chủ nghĩa tư bản đến mức quá đáng là những đảng viên từ chỗ theo chủ nghĩa tập thể, bây giờ trở thành những nhà tư sản, có đất, có nhà cửa, có tư hữu bằng con đường tham nhũng chẳng hạn, để cho người dân Việt Nam đến nay có độc lập nhưng vẫn chưa có đựơc tự do của người công dân, chưa có xã hội công dân, chưa có tự do báo chí, tự do bầu cử, tự do tôn giáo..v.v..Tôi nghĩ, đấy là trách nhiệm, là mặt tiêu cực của ông Hồ còn lại, mà chúng ta cần phải nhận ra.

Tuổi trẻ bây giờ quan trọng nhất là cần có tư duy độc lập. Tất cả những gì mình tiếp thu đựơc nên sàng lọc qua bộ óc, suy nghĩ của mình xem đúng hay sai. Về việc họ ca ngợi đạo đức HCM, tôi nghĩ tuổi trẻ cần phải biết rõ là ông Hồ trong hoạt động cách mạng đã có sai lầm lớn tức là giả dối nhiều lắm.

Cựu đại tá Bùi Tín

Chủ nghĩa sùng bái cá nhân

Trà Mi: Ở Việt Nam lâu nay có phong trào sùng bái cá nhân HCM đến mức gần như là huyền thoại hoá hình ảnh của vị lãnh tụ này. Tại sao lại có tệ sùng bái, mà theo nhiều người, đến mức quá đáng như vậy, thưa ông?

Cựu đại tá Bùi Tín: Đó là theo sùng bái cá nhân của học thuyết chủ nghĩa cộng sản. Trước đây, người ta sùng bái ông Mác, Lênin, Stalin, và đến ông Hồ, xem ông ta là một con người tuyệt đối thánh thiện và không có gì sai lầm cả.

Họ cốt làm việc ấy chỉ để duy trì hình ảnh hợp pháp của đảng cộng sản trong khi ở thế giới người ta đều biết rõ là chủ nghĩa cộng sản và học thuyết Mác-Lê đã tệ hại ra sao. Bây giờ, cả Châu Âu đã ra nghị quyết lên án chủ nghĩa cộng sản hiện thực. Chủ nghĩa cộng sản bị cấm không đựơc truyền bá ở Ba Lan chẳng hạn.

Ở Mỹ không cho những người cộng sản nhập tịch vào nước Mỹ. Tháng 6 tới đây sẽ khánh thành tượng đài kỷ niệm những nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản trên khắp thế giới trong đó có hơn 30 triệu người Nga, 40 triệu người Trung Quốc, cùng các nạn nhân tại Việt Nam của các vụ án chính trị, của Cải cách ruộng đất..v..v.

Cả nhân loại văn minh, khi đã biết rõ chủ nghĩa cộng sản đã đựơc thực hiện và gây tai hoạ như thế nào, người ta còn ví von là nó còn tệ hại hơn chủ nghĩa phát xít nữa cơ mà.

Đâu là sự thật?

Trà Mi: Xung quanh hình ảnh của nhân vật Hồ Chí Minh có rất nhiều huyền thoại cũng như những lời đồn đãi khác nhau khiến cho nhiều người trẻ bối rối không biết đâu là sự thật. Theo kinh nghiệm và sự hiểu biết của ông, ông có những gì muốn chia sẻ với quý thính giả, đặc biệt là thế hệ trẻ?

Cựu đại tá Bùi Tín: Tuổi trẻ bây giờ quan trọng nhất là cần có tư duy độc lập. Tất cả những gì mình tiếp thu đựơc nên sàng lọc qua bộ óc, suy nghĩ của mình xem đúng hay sai. Về việc họ ca ngợi đạo đức HCM, tôi nghĩ tuổi trẻ cần phải biết rõ là ông Hồ trong hoạt động cách mạng đã có sai lầm lớn tức là giả dối nhiều lắm.

Những tài liệu ấy Hà Nội cấm lưu hành, nhưng hiện nay trong giới nghiên cứu thì người ta biết cả rồi. Nhất là trong những tài liệu đựơc công bố ở Trung Quốc của các học giả ở Hoa Nam đã nói về mối tình và đám cưới giữa ông Hồ và bà Tăng Tuyết Minh. Bà Minh sống đến 94 tuổi.

Cựu đại tá Bùi Tín

Một ví dụ đơn giản là ông ta tự viết ra quyển sách nói về tiểu sử của mình, ký tên là Trần Dân Tiên. Trong đó viết rằng bác Hồ rất khiêm tốn, không muốn nói gì đến cá nhân của mình cho nên tác giả phải đi tìm hiểu từ những người khác xung quanh để viết về HCM. Ngoài ra, trong đó còn ghi là HCM không có vợ còn, suốt đời chỉ nghĩ đến dân tộc, thế nhưng thật ra, ông ta có nhiều vợ.

Điều này đã đựơc chứng minh đầy đủ như ông ta đã cưới bà Tăng Tuýêt Minh ở Quảng Châu, Trung Quốc, có rõ cả ngày giờ, giấy hôn thú, ảnh và thư từ cơ mà.
Rồi sau này, khi ông về Hà Nội rồi, người ta cũng biết là chính ông Trần Quốc Hoàng đã bố trí cho ông Hồ một cô tên là Nông Thị Xuân, hàng tuần lễ vào gặp ông, và ông Hồ đã có con là anh Nguyễn Tất Trung năm nay đã hơn 50 tuổi. Tất cả những chuyện đó, tôi nghĩ là chúng ta cần phải biết, tuy là chuyện riêng nhưng cũng phải biết để đánh giá.


Những tài liệu cấm lưu hành

Trà Mi: Những điều ông nói có những tài liệu nào xác thực cụ thể, và những tài liệu đó bây giờ đang ở đâu?
Cựu đại tá Bùi Tín: Những tài liệu ấy Hà Nội cấm lưu hành, nhưng hiện nay trong giới nghiên cứu thì người ta biết cả rồi. Nhất là trong những tài liệu đựơc công bố ở Trung Quốc của các học giả ở Hoa Nam đã nói về mối tình và đám cưới giữa ông Hồ và bà Tăng Tuyết Minh. Bà Minh sống đến 94 tuổi.

Trước đó mấy mươi năm, bà còn muốn tìm liên lạc để gặp lại ông Hồ, thế nhưng ông Hồ không đựơc phép và cũng không muốn. Chính ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đã ngăn cản chuyện đó. Những chuyện đó, trong giới sử học và trí thức, người ta biết tất cả rồi nhưng vẫn cứ che dấu. Lúc này là lúc cần phải minh bạch rõ ràng để mọi người đựơc biết đựơc đúng sự thật như thế nào.

Trà Mi: Hồi nãy ông có nhắc tới người tác giả ký tên Trần Dân Tiên viết về cuộc đời và nhân cách đạo đức của cụ Hồ cũng chính là HCM. Ông có bằng chứng nào xác thực cho luận điểm này hay không?

Cựu đại tá Bùi Tín: Điều này tôi biết từ khi còn ở trong nước. Năm 1990 khi kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông HCM thì chính Viện sử học Việt Nam, chính trên báo Nhân dân, tờ báo của Đảng cộng sản, nói rõ là ông Hồ trong cuộc đời đã dùng đến hơn 30 bí danh khác nhau, trong đó có bí danh Trần Dân Tiên, và khẳng định rõ rằng cuốn “ Những mẫu chuyện về đời sống của chủ tịch HCM” là do chính ông Hồ viết ra.
Cái đó có phải là do ai bịa ra đâu, mà đã chính thức đựơc chế độ cộng sản ở Hà Nội công nhận cơ mà.
Do đó, tôi nghĩ là tuổi trẻ trong nước, nhất là những người nghiên cứu lịch sử, cần phải tìm hiểu cho rõ ràng sự thật, không định kiến, không chửi rủa, nhưng nhận thức cho đúng là có thật chủ nghĩa Mác-Lê là tai hoạ trong hiện thực hay không, cụ Hồ là con người yêu nước mà mang về một học thuyết sai lầm thì nguy hiểm như thế nào.
Đã đến lúc phải tỉnh ngộ mà thay đổi suy nghĩ và từ bỏ nó chứ.

Trà Mi: Xin cảm ơn thời gian ông đã dành cho cuộc phỏng vấn này.
Vừa rồi là quan điểm của cựu đại tá Bùi Tín, cựu đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, người đã trải qua phân nửa quãng đời sống và làm việc theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thế còn suy nghĩ và cảm nhận của thế hệ trẻ ngày nay về Hồ Chủ tịch ra sao? Mời quý vị đón nghe cuộc hội luận giữa các thanh niên trong và ngoài nước xung quanh đề tài này, trong chuyên mục “Diễn đàn bạn trẻ”, phát thanh vào sáng thứ tư 23/5 tới đây.

Tiếng Việt
© 2007 Radio Free Asia

Các tin, bài liên quan
Việt Nam ngày nay qua cái nhìn của một chuyên gia ngoại quốc
Ông Nguyễn Khắc Mai nói về giới trẻ Việt Nam và trách nhiệm đối với đất nước (phần 3)
Tình hình hội nhập của Việt Nam và giới trí thức trong nước (phần 2)
Ý kiến của ông Cù Huy Hà Vũ về một kỳ bầu cử thật sự dân chủ
Một số chi tiết về quá trình lựa chọn ứng viên cho kỳ bầu cử quốc hội khóa 12
Ông Vi Đức Hồi bị khai trừ khỏi Đảng, vì viết bài cổ võ dân chủ (phần 1)
Thế hệ trẻ nghĩ gì đối với cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá 12 sắp tới (phần 1)?
Công luận nghĩ gì về hiện tượng nhiều ứng cử viên quốc hội khoá XII đổi ý sau khi tự ứng cử?
Giới trẻ với sứ mệnh Thể hiện và Truyền bá Dân chủ
Gửi trang này cho bạn
Ðăng ký bản tin Ban Việt Ngữ
Giúp nghe đài RFA trên mạng »



Thursday, May 17, 2007

Người cộng sản Việt Nam, một công cụ của Liên Xô

Mối liên quan giữa HCM, Đảng CSVN và Đệ Tam Quốc Tế

Mối liên quan giữa HCM, Đảng CSVN và Đệ Tam Quốc Tế
Tôn Thất Thiện

Cần xét lại lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
: Ý niệm "không khoan nhượng"

Trong thời gian gần đây, có người đề xướng xét lại lịch sử của Việt Nam dưới tất cả các khía cạnh của nó, một cách gắt gao, "không khoan nhượng".

Ý niệm "không khoan nhượng" gồm có hai phần :

1. Sẵn sàng gạt sang một bên tất cả những huyền thoại, tiên kiến, định kiến, thành kiến, ảo tưởng, mơ mộng, dù là đẹp đẽ, đáng qúy, đáng tôn, đáng kính đến đâu ;

2. Rà soát, kiểm tra lại tất cả các sự kiện một cách kỹ càng, và phân tách các vấn đề một cách vô tư, khoa học để đi đến những kết luận hoàn toàn vững chắc, hợp với thực tại và với lô-gích.

Đề xướng trên đây rất hợp thời.

Một trong những vấn đề của lịch sử Việt Nam cần được xét lại lúc này liên quan đến chế độ cộng sản. Vấn đề này cần được xét lại vì, trong mấy thập niên qua, các cơ quan truyền tin, ấn loát bị những thế lực "tiến bộ", thiên cộng, với sự hỗ trợ của bộ máy tuyên truyền quy mô của các cường quốc cộng sản, đã chi phối dư luận và tô vẽ ông Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam như là những phần tử "quốc gia" Việt Nam, và tình trạng nước Việt Nam và dân Việt Nam chỉ có thể cải thiện được nếu họ đắc thắng và nắm được quyền trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Năm 1975, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã thắng và mở rộng quyền hành của họ trên toàn cõi Việt Nam. Nhưng trong 30 năm qua, tình hình không đuợc như những kẻ đánh bóng cộng sản đã xác quyết. Trái lại, chế độ toàn trị, "cách mạng", và "xã hội chủ nghĩa" cộng sản không những đã cản trở sự phát triển của nước Việt Nam, đè ép nhân dân Việt Nam còn nặng hơn nữa, gây chống đối không những trong hàng ngũ nhân dân, mà ngay cả trong hàng ngũ của đảng viên, cán bộ kể cả những cán bộ đã có công lớn với chế độ. Số người này lại càng ngày càng đông, và sự chống đối của họ lại càng ngày càng mạnh và công khai.

Tình trạng trên đây đòi hỏi phải đặt vấn đề về sự ca tụng cộng sản trong những năm trước 1975. Cần xét lại quá trình của cộng sản ở Việt Nam, nhất là nay sự cứu xét có thể khách quan hơn, nhờ những tiết lộ xuất phát từ ngay trong hàng ngũ đảng cộng sản, của những người đã bỏ đảng, thoát ra ngoài vòng phong tỏa, đe dọa của công an, mật vụ cộng sản, nay được phát biểu tự do, hoặc cán bộ còn trong nước nhưng lên tiếng được nhờ họ chiếm điạ vị, chức vụ quan trọng.

Gần đây, các anh Nguyễn Gia Kiểng và Nguyễn Văn Thế đã có nói về một số khía cạnh của lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam. (Nguyễn Gia Kiểng, "Huyền Thoại Hồ Chí Minh", Thông Luận tháng 6, 2004, "Chủ nghĩa cộng sản đến Việt Nam như thế nào ?", Thông Luận tháng 7+8, 2004 ; Nguyễn Văn Thế : "Tại sao đảng cộng sản Việt Nam thắng ?", Thông Luận, tháng 6, 2004).

Có một khía cạnh nữa, rất căn bản ngày nay, cần được soi sáng, để cho mọi người thấy rõ sự thật, nhất là những người đã gia nhập Đảng Cộng Sản Việt Nam vì tin lời của lãnh tụ đảng. Đó là liên quan giữa ông Hồ Chí Minh, Đảng Cộng Sản Việt Nam và Đệ Tam Quốc tế. Họ đã nghe những lãnh tụ này quả quyết rằng những mục tiêu mà Đảng công bố là mục tiêu của họ - độc lập, tự do, hạnh phúc, công bằng xã hội, v.v. - nhưng ngày nay,
những chủ trương, chính sách, hành động, xử trí của đảng mà họ được mục kích lại trái ngược với những gì mà đảng đã hằng tuyên bố. Điều đã đưa họ vào tình trạng này là khi họ gia nhập hay ủng hộ Đảng Cộng Sản Việt Nam, họ không biết rõ rằng họ bị Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam kéo họ vào một tổ chức sẽ nuốt trôi họ, biến họ thành những công cụ của nó. Tổ chức đó là Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản (Komintern, hay Comintern).

Người cộng sản Việt Nam, một công cụ của Liên Xô

Đệ Tam Quốc Tế được thành lập năm 1919. Nó là con đẻ của Lênin. Ông này, sau khi cướp được chính quyền ở Nga, mà ông ta hoàn toàn chi phối qua một đảng "bôn sê vích", muốn có một tổ chức tương tự bao trùm toàn cầu để ông ta có thể chi phối cả toàn cầu. Theo quan niệm của ông, đảng "bôn sê vích" phải là một đảng tổ chức theo lối quân đội, với kỷ luật sắt, với một hệ thống chỉ huy chặt chẽ, và
một bộ tư lệnh toàn quyền. Đệ Tam Quốc Tế phải là một đội binh cộng sản quốc tế.

Những điều kiện gia nhập có 21 điều kiện - được ấn định trong Đại hội thế giới của Đệ Tam Quốc Tế năm 1920. Đây là những điều lệ mà chắc là phần đông, nếu không nói chẳng có ai, trong đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam biết đến,
khi gia nhập đảng. Nhưng những điều này đuơng nhiên đặt Đảng Cộng Sản Việt Nam dưới sự lệ thuộc hoàn toàn của Đệ Tam Quốc Tế, nghĩa là của Liên Xô, trên ba bình diện cơ chế, mục tiêu, và đường lối.

Trước hết, về mặt cơ chế, Đảng Cộng Sản Việt Nam phải chấp nhận nguyên tắc
"tập trung dân chủ", về nội bộ của đảng, cũng như trong liên lạc với Đệ Tam Quốc Tế.

- Điều 12 nói :
"Tất cả các đảng thuộc Đệ Tam Quốc Tế phải được tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ".

- Điều 16 nói :
"Tất cả các quuyết nghị của các Đại hội thế giới Đệ Tam Quốc Tế, cùng các quyết nghị của Ủy Ban Chấp Hành của Đệ Tam Quốc Tế, đều ràng buộc các đảng gia nhập Đệ Tam Quốc Tế".

- Điều 21 nói :
"Đảng viên nào phủ nhận các điều kiện và cương lĩnh của Đệ Tam Quốc Tế sẽ bị loại ra khỏi đảng".

- Theo điều 17, các đảng thành phần của Đệ Tam Quốc Tế chỉ là những chi bộ của Đệ Tam Quốc Tế, vì
Đệ Tam Quốc Tế "không phải là một tập hợp của những chi bộ quốc gia, mà là một tổ chức quốc tế thống nhất".

- Điều 13 nói rằng
các quyết định của Ủy Ban Chấp Hành "có tính cách ép buộc đối với các chi bộ của Đệ Tam Quốc Tế và phải được thi hành mau chóng".

Ở Ủy Ban Chấp Hành Đệ Tam Quốc Tế (ECCI), trong số 10-12 ủy viên, mỗi đảng lớn được hai ghế, còn các đảng nhỏ không có ghế nào, chỉ có quyền được tham khảo. Liên Xô đương nhiên dành cho mình 5 ghế, cùng chức vị chủ tịch Ủy Ban Chấp Hành vì Liên Xô là quốc gia tiếp nhận tổ chức. Trên Ủy Ban Chấp Hành là một Chủ Tịch Đoàn (Presidium) mà quyền hành còn lớn hơn nữa. Người giữ chúc chủ tịch đoàn này luôn luôn là một người rất thân cận của tổng bí thư Liên Xô, (đến năm 1924 là Lênin, và sau đó là Stalin).

Sự lệ thuộc của các đảng cộng sản đối với Đệ Tam Quốc Tế được tăng cường thêm với điều 1 và điều 15. Theo điều 1, tuyên truyền và vận động
phải có tính cách thực sự cộng sản, không đuợc mang tính cách quốc gia, và phải "phù hợp với chương trình và quyết định của Đệ Tam Quốc Tế". Theo điều 15, "các đảng phải lập chương trình thích ứng với điều kiện của nước và đúng với những nghị quyết của Đệ Tam Quốc Tế", nghĩa là chương trình của mỗi đảng phải được "một Đại hội của Đệ Tam Quốc Tế hay Ban Chấp Hành chấp thuận".

Năm 1928, Nội quy Đệ Tam Quốc Tế lại có thêm một điều, điều 29, buộc Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương của mỗi đảng phải trình lên ECCI biên bản và phúc trình về công việc của đảng đó, và phải được ECCI chấp thuận trước khi đảng đó họp đại hội.

Về hệ thống chỉ huy, theo điều 30 của Nội quy 1928, các cán bộ lãnh đạo của một đảng chỉ được từ chức nếu được phép của ECCI ; sự chấp thuận của Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương của Đảng đó không đủ. Về cơ cấu và phương pháp làm việc của các đảng hội viên thì Đệ Tam Quốc Tế nói rõ rằng
"mỗi đảng cộng sản phải lệ thuộc sự lãnh đạo của Đệ Tam Quốc Tế”“các chỉ thị và quyết định của Đệ Tam Quốc Tế ràng buộc các đảng và, tất nhiên mỗi đảng viên của các đảng đó". Hơn nữa, "Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương của một đảng chịu trách nhiệm với Đại hội của Đảng và ECCI". Để kiểm soát chặt chẽ hơn nữa, thỉnh thoảng Đệ Tam Quốc Tế gởi "phái viên" đi dự Đại hội của các đảng.

Theo điều 9 của Nội lệ của ECCI năm 1928, liên hệ giữa các đảng hội viên và các cơ quan trung ương của Đệ Tam Quốc Tế theo nguyên tắc thống nhất và kỷ luật vô sản. ECCI là thượng cấp và các đảng là thuộc cấp, chớ không bình đẳng. ECCI có quyền đòi một đảng hội viên trục xuất một nhóm hay một đảng viên vi phạm kỷ luật, hoặc trục xuất một đảng vi phạm quyết định của Đai hội Đệ Tam Quốc Tế.

Phải từ bỏ tinh thần quốc gia

Theo những điều kiện trên đây,
một người Việt gia nhập Đảng Cộng Sản Việt Nam đương nhiên mất hết quyền quyết định về vận mạng Việt Nam, hay của chính mình ! Và từ lúc thành lập và tự nhận là một bộ phận của Đệ Tam Quốc Tế, năm 1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã phải từ bỏ một số chủ trương và tuân theo một số chủ trương khác.

Trước hết, về mục tiêu, chủ tịch Zinoviev nói rằng Đệ Tam Quốc Tế là
"một đảng duy nhất, với chi bộ ở các quốc gia". Lênin giải thích rằng Đệ Tam Quốc Tế là "một đội quân vô sản quốc tế" mà nhiệm vụ là "thực hiện cách mạng vô sản quốc tế, thiết lập một Cộng Hòa Sô Viết Quốc Tế". Kamenev, một viên chức cao cấp của tổ chức, nói : cần có một ban tham mưu quốc tế để lãnh đạo đội quân cách mạng quốc tế này, và "Đệ Tam Quốc tế là Ban Tổng Tham Mưu của đội quân này".

Kế đến, đảng đó phải từ bỏ những quan điểm cải lương, hòa bình, và quốc gia. Theo điều 2 của Quy chế Đệ Tam Quốc Tế, tổ chức nào xin gia nhập Đệ Tam Quốc Tế
"phải loại trừ tất cả những người có quan điểm cải lương và "đứng giữa" và thay thế họ bằng những người cộng sản". Theo điều 17, Đệ Tam Quốc Tế "cương quyết tuyên chiến với toàn thể thế giớí trưởng giả (bourgeois), và tất cả các đảng dân chủ xã hội". Và theo điều 6, một đảng xin gia nhập Đệ Tam Quốc Tế phải "khước từ mọi tinh thần ái quốc, và cả tinh thần chuộng hòa bình về mặt xã hội". Người cộng sản phải từ chối "dân chủ tiểu tư sản" và phương thức không cách mạng (không bạo động).

Một khi đã thâu nhận chủ thuyết Lênin, Đảng Cộng Sản Việt Nam phải loại bỏ tất cả các tư tưởng cải lương, chuộng hòa bình, tinh thần quốc gia, chấp nhận bạo động và độc tài vô sản.

Áp dụng bạo lực là một trong những chủ trương chính của Lênin. (Quan điểm này đã được ông ta trình bày rất rõ ràng trong tác phẩm Quốc Gia Và Cách Mạng). "Độc tài vô sản" được ông ta định nghĩa là
"sử dụng bạo lực không chấp nhận một giới hạn nào cả, bất chấp tất cả các luật lệ". Về tinh thần quốc gia và tinh thần quốc tế, Lênin gạt bỏ tinh thần quốc gia, cho đó là môt quan niệm của giới truởng giả (bourgeois), và người cộng sản chỉ biết có một loại tinh thần quốc tế, đó là "chung sức với các người cộng sản khác để chuẩn bị, tuyên truyền, và gia tốc thực hiện cách mạng vô sản quốc tế". Ông ta kêu gọi những người cộng sản trên khắp thế giới "tiếp tay với Liên Xô tổ chức một đạo quân thống nhứt để thực hiện cuộc cách mạng vô sản thế giới và thiết lập một Cộng Hòa Sô Viết toàn cầu". Lênin đòi hỏi người cộng sản phải tuyệt đối trọng kỷ luật. Vi phạm kỷ luật là bội phản giới vô sản. Ông ta nói : "không tuân kỷ luật là giải giới vô sản... người nào vi phạm một tý ty kỷ luật sắt của đảng vô sản là... tiếp tay cho giới trưởng giả chống vô sản".

Hình thức dân tộc, nội dung quốc tế

Trên đây là phần tư tưởng, chủ trương, đường lối, chiến lược và tổ chức. Về phương diện chiến thuật, phương thức cách mạng, thì các cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã được nghe nhiều, và được huấn luyện theo đó. Chiến thuật, đặc biệt là chiến thuật cướp chính quyền có thể nói là phần quan trọng nhứt trong chủ nghĩa Lênin; đó là môn sở trường nhất của Lênin. Nó cũng là môn sở trường nhất của Hồ Chí Minh, người được công nhận là một đệ tử xuất sắc nhứt của Lênin. Và ông Hồ đã truyền lại những mánh khóe "cách mạng" cho đàn em trong Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Những giáo huấn chính của Lênin về lãnh vực này được trình bày trong tác phẩm
"Cộng sản tả khuynh, căn bệnh của cộng sản ấu trĩ". Trong tác phẩm này Lênin nói về những phương thức, thủ đoạn, xảo quyệt, để nắm bá quyền trong các tổ chức, và cướp chính quyền. Các đảng viên cán bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam chắc được học nhiều, nghe nhiều về những điều này, tưởng không cần lặp lại ở đây. Chỉ có ba điều cần nhấn mạnh.


Điều thứ nhất là sự sử dụng bạo lực. Lênin dạy đàn em phải
sử dụng bạo lực triệt để, và chỉ có bạo lực mới giải quyết mọi vấn đề. Đó là "bạo lực cách mạng".

Điều thứ nhì là quan niệm cộng sản về đạo đức. Lênin dạy đàn em rằng
đạo đức của người cộng sản là có thể làm bất cứ điều gì, miễn là có lợi cho đảng cộng sản.

Điều thứ ba, căn bản nhất, là
thủ đoạn mang mặt nạ, lường gạt kẻ khả tín, thực hiện cách mạng thế giới qua nhiều giai đoạn, nhưng thủ đoạn này rất tế nhị, ít người thấy được rõ. Đó là : "chiến lược không thay đổi, nhưng chiến thuật thì thay đổi hoài hoài". Đặc biệt là phải áp dụng những hình thức khác nhau, để đánh lạc hướng địch nhân, mà ngay cả những người đồng minh, hay những người theo mình không phải vì họ thích chủ nghĩa cộng sản, làm cho họ không thấy được mình đang thực sự làm gì, dẫn họ đi đâu.


Thủ đoạn trên đây được ghi trong một văn kiện rất dài nói về "chính sách mới" của đảng, tháng 10, năm 1936 :

"Đảng Cộng Sản Đông Dương là chi bộ của Quốc Tế Cộng Sản, chiến lược cuối cùng của Đảng tức là chiến lược của Quốc Tế Cộng Sản...

Theo đúng chiến lược của Quốc Tế Cộng Sản thì chiến lược của Đảng Cộng Sản Đông Dương là làm cách mệnh dân quyền... để dự bị điều kiện đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa, đó là mục đích cuối cùng của cách mệnh trong giai đoạn này... Cần nhắc lại rằng chiến lược của Đảng không thay đổi, còn chiến sách là một thứ mưu kế để hoạt động cần phải sửa đổi luôn...

Chúng ta theo chủ nghĩa quốc tế,
không phải theo chủ nghĩa quốc gia... chúng ta phải nâng cao tinh thần tranh đấu dân tộc giải phóng mật thiết liên kết với quyền lợi của quần chúng lao động, nghĩa là hình thức thì dân tộc mà nội dung thì quốc tế" [tác giả nhấn mạnh].

Câu chót này trích hầu như nguyên văn của một câu trong Tuyên Ngôn Của Đảng Cộng Sản :
"Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc".

Đây là một đề tài mà các cán bộ, đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam đã hăng say tranh đấu và hy sinh trong mấy chục năm qua nay cần suy ngẫm, và tự hỏi :
"Mình đã giết biết bao nhiêu đồng bào, phá hủy biết bao nhiêu tài sản, để làm gì, cho ai ?".


Tôn Thất Thiện (Ottawa, 11-2004)
(Theo Web Thông Luận)

Dân Chủ Giả Vờ

Minh Ðức

Tạp Chí Ðàn Chim Việt, 1/2003

Mọi người thường nghe các chế độ CS tại Việt Nam và Trung Quốc nói rằng nhân quyền cũng như dân chủ là sản phẩm của chế độ Tây phương rồi từ đó ngụy biện rằng một số quan niệm dân chủ chỉ là đặc thù của Tây phương, còn xã hội Á Ðông thì không thích hợp với các quan niệm đó. Thật ra trên lý thuyết, chế độ tại Việt Nam cũng mặc nhiên thừa nhận một số những nguyên tắc dân chủ mà họ gọi là của Tây phương, ví dụ như:

· Người cầm quyền phải do dân bầu lên .

· Nguyên tắc ‘balance and check’, quân bằng và kiểm tra .

· Quan niệm về xã hội dân sự .

Nhưng vì Hiến Pháp và mô hình hành chính cốt chỉ để trưng bày, trình diễn nên có nhiều lắt léo trong cách nói cũng như cách thi hành.

Nguyên tắc nhà cầm quyền phải do dân bầu lên

Nói về nguyên tắc nhà cầm quyền phải do dân bầu lên. Chế độ tại Việt Nam hiện nay cũng nói rằng chính quyền hiện nay là do nhân dân bầu lên. Cụ thể là Thủ Tướng và Chủ Tịch nước là do quốc hội bầu ra. Mà quốc hội gồm các dân biểu do dân bầu lên. Vậy thì Thủ Tướng và Chủ Tịch Nước do các dân biểu cử ra thì chính là do dân bầu lên vậy. Tại Anh và Canada thì Thủ Tướng cũng do người đứng đầu đảng nắm đa số trong quốc hội, mà dân biểu trong quốc hội thì do dân bầu lên.

Cái lắt léo thứ nhất trong cách lý luận của CS là mặc dù dân biểu tại Việt Nam do dân bầu lên, nhưng dân biểu thì lại phải do Mặt Trận Tổ Quốc sàng lọc. Mà Mặt Trận Tổ Quốc thì lại do đảng CSVN chỉ đạo. Như vậy là dân biểu do đảng CS chọn chứ không phải là do dân chọn.

Cái lắt léo thứ hai là giữa chế độ dân chủ khác và chế độ tại Việt Nam có sự khác nhau là tại các chế độ dân chủ khác, Thủ Tướng hay Tổng Thống là người lãnh đạo tối cao trong nước. Còn ở Việt Nam hay Trung Quốc thì Thủ Tướng hay Chủ Tịch nước chưa phải là người lãnh đạo tối cao trong nước mà ông Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản mới là người lãnh đạo tối cao. Vậy thì ông Tổng Bí Thư Ðảng CS có do dân bầu lên không? Ông Tổng Bí Thư Ðảng CS do các đảng viên trong đảng của ông ta bầu lên. Mà đảng viên thì cũng chẳng do dân bầu lên. Ðảng viên là do ông Tổng Bí Thư lựa chọn và kết nạp vào. Thế là trong quá trình chọn người lãnh đạo tối cao của đất nước, tức là ông Tổng Bí Thư, người dân bị gạt ra ngoài, chỉ có các ông bà đảng viên bầu với nhau mà thôi. Nhân dân chỉ được nghe đài, xem báo để biết ông nào được làm Tổng Bí Thư chứ không được cầm lá phiếu để bầu cho ông Tổng Bí Thư.

Như vậy nguyên tắc nhà cầm quyền phải do dân bầu lên không được thi hành thật sự ở Việt Nam, chuyện đi bầu chỉ là màn kịch bề ngoài, một mà biểu diễn dân chủ, còn mọi sự đều do các đảng viên định đoạt.

Nếu ai cả gan dám đề cập đến sự khác nhau này thì ắt là sẽ được người ta nói rằng dân chủ mà các nước dân chủ kia có là dân chủ kiểu Tây phương, còn dân chủ theo lối Á Ðông thì khác. Cái khác ở đây nó lớn đến nỗi mọi thứ đều thu vào một mối do đảng nắm cả, dân chẳng có quyền gì cả .



Nguyên tắc Quân Bằng và Kiểm Tra

Ðối với nguyên tắc ‘balance and check’, quân bằng và kiểm tra, thì nhà nước tại Việt Nam cũng cho rằng chế độ tại Việt Nam cũng có. Về balance, quân bằng, thì Tạp Chí Cộng Sản từng có bài viết về sự quân bằng giữa nhân dân và chính quyền. Còn về ‘check’, kiểm tra, thì rõ ràng là nhà nước có đề ra khẩu hiệu ‘Dân nói, dân làm, dân kiểm tra’.

Tạp Chí Cộng Sản từng có bài viết nói là tại Việt Nam cũng có sự quân bằng giữa nhân dân và chính quyền. Bài báo đưa ra thí dụ là dân biểu là do dân bầu lên. Và quốc hội có quyền bãi chức một số viên chức chính quyền. Dân biểu do dân bầu lên tức là dân có quyền bất tín nhiệm dân biểu nếu dân biểu không làm tròn nhiệm vụ đại diện cho dân. Như thế là dân có quyền lực đối với dân biểu, tức là với quốc hội, tức là có sự quân bằng quyền lực. Rồi quốc hội có quyền bãi chức viên chức chính quyền. Quốc hội đại diện cho dân, quốc hội có quyền bãi chức tức là dân có quyền bãi chức viên chức chính quyền. Như thế tức là có sự quân bằng quyền lực vì dân cũng có quyền bãi chức.

Trên thực tế, dân biểu thì do Mặt Trận Tổ Quốc chọn, tức là do Ðảng CS chọn. Những người nào có thể gây phiền nhiễu cho Ðảng thì Ðảng bảo Mặt Trận Tổ Quốc gạt ra ngoài. Thế thì dân chẳng còn quyền lực chọn dân biểu hay bất tín nhiệm nữa mà cái quyền đó nằm trong tay Ðảng CS.

Hiện tay tuy quốc hội có quyền bãi chức một số viên chức chính quyền nhưng mới đây khi quốc hội bàn đến việc có để cho quốc hội bãi chức Thủ Tưởng và Chủ Tịch Nước hay không thì Bộ Chính Trị gạt phăng đi bắt chỉ có Ðảng mới có quyền bãi chức Thủ Tướng và Chủ tịch nước. Nếu thế thì không có cân bằng quyền lực giữa nhân dân và chính quyền rồi.


Mà ngay như nếu để cho quốc hội có quyền bãi chức Thủ Tướng hay Chủ Tịch nước thì hành động này cũng không tương đương với hành động quốc hội bãi chức Tổng Thống hay Thủ tướng tại các nước dân chủ khác.
Tại các nước dân chủ khác, Tổng Thống hay Thủ Tướng là người lãnh đạo tối cao của nước, trên đầu các ông này không còn ai khác. Còn tại Việt Nam hay Trung Quốc, Thủ Tướng hay Chủ Tịch Nước vẫn chưa phải là người lãnh đạo tối cao của nước, mà người lãnh đạo tối cao thực sự là ông Tổng Bí Thư Ðảng CS. Quốc hội không có quyền bãi chức ông Tổng Bí Thư. Nghĩa là nhân dân không có cách nào bãi chức ông Tổng Bí Thư cả. Thế là không có sự quân bằng về quyền lực giữa nhân dân và đảng. Bài báo của Tạp Chí Cộng Sản đã dùng lối lý luận mập mờ để người dân có cảm tưởng là Việt Nam cũng có sự quân bình giữa nhân dân và chính quyền như các nước dân chủ khác. Vì chính quyền độc quyền thông tin nên dù cho có người dân nào nhìn ra chỗ ngụy biện của Tạp Chí Cộng Sản thì cũng không có phương tiện mà lên tiếng bác bỏ, dù có cả gan dám lên tiếng thì cũng sẽ bị nhà nước trừng phạt bắt phải im miệng.

Còn về khẩu hiệu ‘dân nói, dân làm, dân kiểm tra’ thì chỉ có ‘dân làm’ là được thi hành.

Về ‘dân nói’ thì dân không được quyền ra báo, mọi cơ quan truyền thông đều do nhà nước nắm thì dân chỉ nói được cái gì nhà nước cho phép nói mà thôi. Những gì nhà nước không cho nói dù cho có đúng sự thật, có lý mà nhà nước không cho nói thì dân cũng không được nói.

Về ‘dân kiểm tra’ thì tại các nước dân chủ , việc kiểm tra do quốc hội, báo chí và dư luận quần chúng. Quốc hội tại Việt Nam thì do Ðảng chọn qua bàn tay của Mặt Trận Tổ Quốc, nên quốc hội không còn có tính cách độc lập, không còn là cơ quan đại diện cho dân nữa. Quốc hội không được độc lập, không thực sự đại diện cho dân thì việc kiểm tra của quốc hội rất là hạn chế. Dân biểu do Ðảng chọn thì dân biểu sợ Ðảng, không dám nói gì đụng chạm đến Ðảng, thế thì việc kiểm tra rất khó khăn. Báo chí thì đều do nhà nước nắm cả .

Những năm gần đây tuy báo chí có nêu lên một số vấn đề và phê phán nhưng những việc liên quan đến lãnh đạo cấp cao thì báo chí không được đụng đến. Thiếu tự do báo chí thì công việc kiểm tra cũng bị hạn chế. Còn việc kiểm tra bằng dư luận quần chúng thì dân không được biểu tình. Một số người biểu tình bị công an bắt giam, trù dập. Chẳng những thế ông Tổng Bí Thư lại có lần nói những người biểu tình là lạm dụng dân chủ .
Như vậy là nhà nước ra khẩu hiệu ‘dân kiểm tra’ nhưng lại không có cơ chế để cho dân có thể làm việc kiểm tra một cách hữu hiệu. Thế thì có khác gì bảo một người đi cày mà không đưa cho cày, không đưa cho trâu, với hai bàn tay không mà bảo đi cày.
Tại một số nước dân chủ, người ta còn ra luật cho phép công dân được lục giấy tờ, hồ sơ của cơ quan nhà nước để bảo đảm cho dân làm công việc kiểm tra hữu hiệu hơn. Nhờ vậy tại các nước đó, nhiều nhà báo có thể lục hồ sơ của cơ quan nha ønuớc để làm các phóng sự về các vụ lem nhem của chính quyền. Còn tại Việt Nam, có bao nhiêu người dân dám đòi cơ quan nhà nước trình giấy tờ, hồ sơ để mình kiểm tra?



Quan niệm về xã hội dân sự

Những năm sau này, có một số tác giả tại các nước dân chủ ra sách nói về quan niệm xã hội dân sự, nghĩa là một xã hội trong đó người dân tự lập ra các tổ chức, tự điều hành các tổ chức của mình để giải quyết các vấn đề của mình. Một số nhà tranh đấu cho dân chủ ở hải ngoại bàn về việc thành lập xã hội dân sự để thay thế cho xã hội hiện nay tại Việt Nam, là một xã hội trong đó mọi tổ chức đều do chính quyền và đảng CS đặt ra và chi phối. Trong khi đó thì báo chí trong nước, cụ thể là báo Tuổi Tre,û cũng từng có bài giới thiệu sách của một tác giả nói về xã hội dân sự . Mục đích của bài báo là khuyến khích thanh niên tham gia các tổ chức của quần chúng mà làm các công tác xã hội.

Nhưng xã hội Việt Nam hiện nay khác với xã hội các nước dân chủ khác là các tổ chức gọi là của quần chúng tại Việt Nam thì do chính quyền lập ra và kiểm soát, nói chính xác hơn là do Ðảng lập ra và lãnh đạo, còn tại các nước dân chủ có một xã hội dân sự thật sự thì tổ chức quần chúng là do quần chúng lập ra thật, nó không bị chính quyền chi phối hay đảng cầm quyền chi phối.

Xét bề ngoài, sự khác nhau kể trên có vẻ như không đáng kể . Người ta có thể nói thì: tổ chức mang danh là của ‘quần chúng’ do chính quyền lập ra hay tổ chức quần chúng thực sự cùng đều làm việc xã hội cả . Người dân tham gia tổ chức ‘quần chúng’ của chính quyền hay tổ chức quần chúng của quần chúng đều làm công tác xã hội cả . Có gì khác nhau đâu. Trên thực tế sự khác nhau này đưa đến một số hậu quả cho xã hội.

Tổ chức mang danh quần chúng do đảng cầm quyền lập ra không phải luôn luôn phát xuất từ quyền lợi của quần chúng mà thường phát xuất từ quyền lợi của chính quyền, hay của đảng cầm quyền. Tổ chức quần chúng do quần chúng lập ra phát xuất từ việc quần chúng nhìn thấy mình có nhu cầu, có các vấn đề cần giải quyết nên các tổ chức này đi sát với nhu cầu của quần chúng và giải quyết các nhu cầu của quần chúng một cách hữu hiệu. Còn tổ chức ‘quần chúng’ do chính quyền lập ra thì đôi khi chỉ lo phục vụ cho nhu cầu của chính quyền, trong khi nhu cầu của dân thì có thể bị lơ là.

Các tổ chức do quần chúng lập ra có tính cách tự nguyện, người ta gia nhập các tổ chức này phần lớn phát xuất từ thiện chí, muốn vào để giải quyết các nhu cầu và vấn đề của xã hội chứ không phải vì danh lợi , vì các tổ chức kiểu này chẳng có mấy danh lợi để mà ban phát . Còn tổ chức mang danh ‘quần chúng’ do chính quyền lập ra thì luôn luôn đi liền với danh, lợi, và quyền. Người gia nhập các tổ chức ‘quần chúng’ do chính quyền lập ra không hẳn chỉ thuần là do thiện chí muốn đóng góp cho xã hội mà còn có thể do lý do quyền lợi bản thân, họ có thể coi việc phục vụ là việc làm cốt để lấy thành tích với mục đích được thăng thưởng trong tổ chức.

Nếu chính quyền dành độc quyền chỉ có mình mới được thành lập và điều hành các tổ chức mang danh ‘quần chúng’ thì sẽ làm nảy sinh ra hiện tượng tiêu cực trong quần chúng. Quần chúng sẽ thấy trong khi xã hội đầy rẫy vấn đề mà mình không được quyền tự do thành lập tổ chức để giải quyết mà bắt buộc phải gia nhập tổ chức của chính quyền, rồi lại thấy trong tổ chức của chính quyền lập ra nhiều người chỉ gia nhập với ý đồ tự tư tự lợi thì những người có thiện chí sẽ sinh ra chán nản, quay lưng với xã hội, chỉ lo thu vén cho cá nhân. Trong xã hội mà chính quyền dành độc quyền nắm các tổ chức ‘quần chúng' sinh ra hiện tượng chính quyền luôn luôn kêu gọi dân nên đóng góp cho xã hội trong khi đó thì dân tỏ ra ù lì, bất cần.

Nói tóm lại, chế độ CS tại Việt Nam thấy ở các nước dân chủ thật sự có món gì hay ho đều cho nhà báo của mình viết những bài lý luận nói rằng chế độ của đảng CS cũng có những món hay ho đó mặc dù cơ chế chính quyền và xã hội tại Việt Nam từ hàng chục năm nay chẳng có gì thay đổi, vẫn chỉ là cơ chế của một chế độ độc tài, quyền hành tập trung vào một đảng. Các nhà lý luận của chế độ dùng lối hành văn mập mờ, ngụy biện để làm cho dân Việt tưởng là chế độ tại Việt Nam có đầy đủ những gì các nước dân chủ thật sự khác đang có.

Nếu ai tinh ý thấy có những điểm khác nhau giữa các nước dân chủ thật sự và chế độ ở Việt Nam mà nêu lên thắc mắc thì lại được nghe câu thần chú là quan niệm đó là quan niệm dân chủ Tây phương không thích hợp với Á Ðông. Chỉ một câu như vậy là đủ đem tất cả các cái hay của dân chủ đổ xuống sông xuống biển cả , không còn tác dụng gì ở Việt Nam nữa. Trong khi họ cứ cố bám theo ‘định hướng XHCN’, không lẽ họ không còn nhớ chủ nghĩa Mác - Lê là từ đâu ra? Phương Ðông hay phương Tây?

Minh Ðức

Monday, May 14, 2007

VIET CONG MAI SONG TRONG SU KHINH BI CUA NHAN LOAI VA NOI CAM HON CUA NGUOI VIET

Dẹp bỏ ngôi nhà lũ gia nô
ăn hại
!!!
Ban Biên Tập TDNL (15.05.2007 số 27) Tiếng Nói của người dân Việt Nam
đòi Quyền Tự Do Thông Tin Ngôn Luận

Trong các vụ án phi pháp và phiên tòa quái đản kể từ hôm 30-3-2007 tới giờ, Cộng sản Việt Nam đã bẽ mặt nhiều vì tiếng hô dõng dạc của linh mục Nguyễn Văn Lý, nụ cười bất khuất của bác sĩ Lê Nguyên Sang và khí phách can trường của luật sư Nguyễn Văn Đài cùng mọi chiến sĩ dân chủ liên hệ.

Tuy nhiên, Bộ chính trị cũng hí hửng không kém vì vẫn còn thấy được sự trung thành tối mặt của đám gia nô qua các vụ án đó: từ đám gia nô báo chí đã đồng loạt đánh hội đồng, tuyên “cáo trạng” cách đê tiện đối với các bị cáo, đám gia nô công an thẩm vấn đã vận dụng mọi ngón đòn lừa gạt và hăm dọa để bức cung ép cung, đám gia nô viện kiểm sát đã dùng ngòi bút thâm độc để viết lên những bản cáo trạng vừa khôi hài vừa thô bỉ, vừa vu khống vừa ngụy biện, đến đám gia nô tòa án đã dùng mọi thủ thuật để tước các quyền của bị cáo, để ngoác miệng luận tội cách vu vơ, chẳng còn biết gì là công lý và liêm sỉ. Thậm chí có tên gia nô còn nhiệt tình đến độ dùng hai bàn tay hộ pháp của mình để bịt miệng và điểm huyệt cha Lý, trước cử chỉ gật gù của đám chánh thẩm và bồi thẩm. Quả là đảng đã thành công trong sự nghiệp giáo dục nhân dân thành người hèn (thay vì thành người hiền như truyền thống trị quốc xưa nay của nhân loại). Cũng làm Bộ chính trị hí hửng không kém là sự im lặng đáng tiền và đáng thưởng của những người có trách nhiệm với linh mục Lý về lý lẫn tình hơn cả! Chúc mừng đảng đã có được những tay sai nô bộc ở chỗ không ngờ nhất!

Nay qua cái gọi là “cuộc bầu cử quốc hội khóa XII” vào ngày 20-5 sắp tới, đảng ta sắp tạo thêm được một đám gia nô mới, trong đó có cả một lô chức sắc tôn giáo quốc doanh, ra ứng cử với sự cho phép, chúc lành của bề trên họ! Và cũng như mọi lần, đảng đang nắm chắc phần thắng trong tay. Trước hết là nhờ tay sai Mặt trận Tổ quốc –qua ba cuộc hiệp thương kiểu đấu tố- đã mưu trí gạt bỏ mấy trăm kẻ ngây thơ (nhưng đảng gọi là “bọn có ý đồ”) nộp đơn tự ứng cử. Tiếp đến là nhờ những người nắm trong tay thế lực tinh thần và sức mạnh quần chúng, nhưng thay vì lên tiếng hướng dẫn công luận trong cuộc bầu cử theo lương tâm chức nghiệp và theo tấm gương đồng nghiệp bên trời Âu, thì họ lại bận bịu xách bị đi xin bên trời Mỹ, mặc cho thế sự xoay vần! Tiếp nữa là nhờ đảng đã mau mắn nhốt kín “bọn kêu gọi tẩy chay, phá hoại bầu cử” sau những cánh cửa sắt kiên cố của nhà tù. Giờ đây, ai trong nhân dân hoặc quốc tế có thắc mắc về bản chất quốc hội (Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất hay là Bộ Chính trị và Ban chấp hành Trung ương Đảng?), về ý nghĩa bầu bán (Cử tri thậm chí không biết mặt người được ứng cử là ai, họ đã, đang và sẽ làm được gì cho dân cho nước!), thì hãy nghe lời tuyên bố chắc như bắp rang, không biết ngượng ngập của một trong những tay gia nô hàng đầu: “Cần phân biệt hai vấn đề: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, nhưng Đảng CSVN với đại diện cao nhất là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị là lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo Nhà nước, Quốc hội, nhưng Đảng không làm thay nhiệm vụ của các cơ quan Nhà nước!” và “Ở các nước khác có chế độ tranh cử, nhưng ở Việt Nam không có tranh cử mà là vận động bầu cử và theo quy định” (Đối thoại trực tuyến tại website của báo Điện tử Đảng CSVN vào ngày 02-05-2007).

Tuy nhiên, chẳng phải toàn dân đều đã bị đảng biến thành tay sai nô bộc cả. Thành thử chúng ta dù hiểu rằng bầu cử là quyền lợi thiết thực, nghĩa vụ cao quý và rằng Quốc hội là cơ quan cần thiết, thể chế ích lợi, nhưng nhất định không thể tiếp tục góp phần duy trì mà phải dẹp bỏ ngôi nhà lũ gia nô ăn hại, vì những lý do chính đáng sau đây:

1- Lý do chính trị: Việc chuẩn bị bầu cử Quốc hội tại Việt Nam xưa nay đều áp dụng phương thức gọi là Hiệp thương do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì. Qua bao nhiêu năm, việc hiệp thương ấy đã lộ rõ là một thủ đoạn xảo quyệt và trơ trẽn của đảng CS, nhắm làm mọi cách cho người của mình được đề cử vào Quốc hội thôi. Mặt trận Tổ quốc là một tổ chức ngoại vi, một công cụ của Đảng, nên dù hiệp thương rộng hay hiệp thương hẹp cũng chỉ dám theo chỉ thị của Đảng để chọn những kẻ “trung thành với tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” mà thực chất là trung thành với Đảng CS.

Tại các nước dân chủ thật sự có ba ngành lập pháp, tư pháp và hành pháp phân chia quyền lực rõ rệt, một người ở vai trò hành pháp hay tư pháp thì không thể là “đại biểu nhân dân” ở Quốc Hội, vì như thế là độc tài, là “vừa đánh trống vừa thổi còi”. Nhưng ở Việt Nam, Ðảng CS là đảng duy nhất được phép hoạt động, các đảng viên cao cấp vừa là thành viên chính phủ lại vừa là “đại biểu nhân dân”. Nhìn vào bản danh sách do báo Tuổi Trẻ đưa ra, Bộ chính trị có 14 người thì 12 người đã được “cơ cấu” ra ứng cử, chỉ trừ Phạm Quang Nghị (bí thư thành ủy Hà Nội) và Lê Thanh Hải (bí thư thành ủy Sài Gòn). Các đảng viên cao cấp nhất của đảng CS dù chỉ nắm chức vụ trong Ðảng như Nông Ðức Mạnh, hoặc nắm chính phủ như Nguyễn Tấn Dũng hoặc làm chủ tịch nước như Nguyễn Minh Triết trở xuống đều chiếm một ghế ở Quốc Hội, với vai trò giữ các “đại biểu” còn lại luôn trong tình trạng “gia nô”. Do đó, tiến trình và kết quả bầu cử Quốc hội từ bấy lâu nay tại Việt Nam là bất hợp pháp.

2- Lý do xã hội: Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, đại biểu cho nhóm bảo thủ, giáo điều trong đảng CS, đã huênh hoang tuyên bố trên báo Nhân Dân hôm 27-3-2007 : “Ngày 20-5 tới đây sẽ diễn ra một sự kiện đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị nước ta. Ðó là ngày toàn thể cử tri Việt Nam thực hiện quyền lựa chọn những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân để bầu vào Quốc hội, cơ quan đại biểu cao nhất của dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước…”. Nhưng qua các cuộc “hiệp thương” của Mặt trận Tổ quốc tại 182 đơn vị bầu cử trên cả nước, thì số người ngoài đảng và tự ứng cử là 238 người, nhưng nay bị gạn lọc chỉ còn khoảng 30 người, và họ có trúng cử hay thuần làm phận sự lót đường lại là chuyện khác. Ngoài ra, nhìn vào danh sách 876 người được chọn, ta không khỏi thắc mắc tại sao chỉ 29 ứng viên là có tôn giáo, số còn lại đều “vô tôn giáo” trong một đất nước mà đại đa số nhân dân đều có tín ngưỡng. Và ngày 20-5 tới, trong số 876 ứng cử viên được được chọn, nhân dân sẽ bỏ phiếu lấy 500 ghế Đại biểu, đang khi con số ứng cử lẽ ra phải là gấp ba: 1500 hay ít nhất gấp đôi: 1000. Ngoài ra, tiền chi phí cho cuộc bầu bán vô nghĩa, để chọn ra một Quốc hội vô ích này tốn hết 350 tỷ đồng, tăng gấp rưỡi phí tổn bầu khóa XI chỉ mất có 230 tỷ đồng. Tất cả đều là tiền thuế của nhân dân, của toàn xã hội.

Hậu quả về mặt xã hội là cho tới nay, những cuộc bầu cử Quốc hội tại Việt Nam đã không đem đến một nền Pháp chế công minh, một nền Dân chủ đúng nghĩa, một nền Tự do đích thực cho Tổ quốc, đã không tạo nên những Đại biểu chỉ một lòng thực thi ý muốn của Dân, chỉ chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Dân và chỉ dựa vào sức mạnh, niềm kính trọng, lòng tin yêu của Dân để hành xử, để soạn ra Pháp luật, mà chỉ nặn ra những gia nô cho đảng, những con rối cho bộ chính trị. Bởi thế Việt Nam vẫn đầy dẫy dối trá và bạo hành, thảm cảnh và tệ nạn, tụt hậu và suy đồi, không có các Quyền tự do cơ bản như Tự do Tôn giáo, Tự do Ngôn luận, Tự do Lập hội, Tự do Ứng cử và Bầu cử,… không thể vươn tới tầm cao phát triển nhân sinh nhân quyền như mọi Quốc gia Dân chủ Văn minh. Do đó, tiến trình và kết quả bầu cử Quốc hội bấy lâu nay tại Việt Nam đều vô ích, nếu không muốn nói là tai hại cho xã hội.

3- Lý do đạo đức: Trong hơn 60 năm rồi, qua 11 lần bầu cử dưới chế độ Cộng sản, việc đi bầu đã luôn là điều gượng ép đối với mọi người dân Việt. Theo bộ máy tuyên truyền của CS, tại Việt Nam có tự do đầu phiếu, ai muốn đi bầu hay không là tùy ý thích cá nhân và hoàn cảnh gia đình. Trong thực tế, Đảng và nhà nước CS đã luôn dùng nhiều biện pháp để lùa dân tới phòng phiếu, nhẹ thì buộc thân nhân bầu thay, nặng tay hơn là cưỡng bức bằng cách bằng cách đe dọa gây khó dễ về sau trong công việc làm ăn, xin chứng nhận giấy tờ..., đặc biệt thô bạo là trừng phạt những ai khước từ bỏ phiếu vì lương tâm xét thấy nghĩa vụ rất cao cả và quyền lợi rất cơ bản đó đã bị Đảng CS biến thành phương tiện để duy trì và củng cố ách độc tài của đảng. Cụ thể, mỗi người dân trong tổ dân phố, hay thôn xóm đều được cấp phát một Thẻ cử tri; đến ngày bỏ phiếu, cử tri đem thẻ đó đến phòng phiếu trình diện và công an trách nhiệm sẽ đóng mộc vào thẻ để chứng minh là cư dân ở địa chỉ đó có đi bỏ phiếu. Những ai bệnh nặng đi lại không được thì thùng phiếu sẽ được đưa đến tận nhà. Sau ngày bầu cử, công an khu vực kiểm tra lại và sẽ đối phó tùy theo đối tượng. Bằng chứng cụ thể mới nhất là việc CS đã và đang sách nhiễu, giam cầm, xét xử những thành viên cốt cán của Khối 8406, Liên minh Dân chủ Nhân quyền Việt Nam, đảng Thăng Tiến và đảng Dân chủ Nhân dân là những lực lượng quyết tâm tẩy chay cuộc bầu cử Quốc hội khóa 12 tới.

Qua các cuộc bầu cử đầy gian trá và cưỡng bức như trên, đảng CS đã biến toàn thể nhân dân đủ mọi tầng lớp, mà đặc biệt là giới trí thức và giới tu hành, những con người ở vị trí hướng dẫn xã hội về mặt tinh thần, trở thành một quần chúng quen gian dối, làm một điều trái lương tâm như thế mà vẫn không hay ít áy náy hổ thẹn. Đảng CS đã biến toàn thể nhân dân đủ mọi tầng lớp trở thành một quần chúng hèn nhát, bạc nhược, bị cưỡng bức làm một điều vô ích, phi pháp, nghịch thường như vậy mà vẫn không phản kháng hay phản kháng cách tiêu cực, yếu ớt. Do đó, tiến trình và kết quả bầu cử Quốc hội từ bấy lâu nay tại Việt Nam là vô đạo đức, gây tổn thương cho tinh thần dân tộc.

Saturday, May 12, 2007

Ngành giáo dục gian dối VC : Bộ máy để tẩy não cho người-máy

Đúc người máy vì lợi ích dăm năm
(Thư gửi các lãnh đạo ngành giáo dục gian dối VC)
Nguyễn Hữu Vinh

“… nghe mãi lời giáo huấn “... vì lợi ích trăm năm trồng người”, nhưng cháu nghĩ quả tình chả thấy các bác trồng trọt gì mấy, thấy toàn là đúc thôi, ra rặt những người-máy …”

Cháu không còn trẻ nữa, cũng không phải đi học nữa, nhưng thấy mình vẫn còn non nớt lắm, nên xin được xưng hô vậy. Già người mà vẫn thấy còn non cái dạ, lại hèn kém, đó chính là một trong những lý do quan trọng thôi thúc cháu viết lá thư này gửi đến bộ giáo dục mà cháu xin được gọi là “cỗ máy đúc người”, và bức thư này cháu xin được gửi tới hết thảy các bác lãnh đạo của ngành trong nhiều thế hệ mà cháu cũng xin được mạn phép gọi là các “quản đốc phân xưởng đúc”. Tại sao vậy? Cháu sẽ xin được làm rõ:

Trước hết là ý muốn chia sẻ nỗi lo của các bác đang vật vã với chuyện đúc người bao nhiêu năm nay, cứ cải (cách) đi rồi cải lại mà càng bế tắc thêm.

Cái cỗ máy đúc người này nó làm cháu nhớ tới cuốn phim Đồi thịt băm, tức là nó băm vằm, nuốt chửng danh tiếng và mọi nỗ lực của nhiều thế hệ lãnh đạo các bác (nếu như ai đó thực tâm có). Các bác không thấy được, hoặc làm như không thấy, là nó chỉ như một cỗ máy trong một nhà máy khổng lồ, đã vận hành từ rất lâu với một sức mạnh và quán tính khủng khiếp. Hơn nữa, nó lại đóng vai trò vô cùng quan trọng là đúc ra mọi chi tiết cho những cỗ máy cái ở các phân xưởng khác. Thế mà cứ cố vặn vẹo nó nay tí mai tí mà không chịu cải đổi hẳn đi, không quan tâm tới các cỗ máy khác đang lôi kéo nhằng nhợ với nó thì đương nhiên sẽ bị nó nuốt chửng.

Cái cỗ máy này thực ra đã một thời có công tích ghê gớm, có điều hình như chưa thấy ai phân tích cái kiểu công tích này và việc nó tác động lại theo lối phản tác dụng ghê gớm ra sao tới xã hội chúng ta, và đến chính nó, cái cỗ máy làm ra công tích đó.

Công

Phải nói là giờ nhớn rồi, lại được mở mang hiểu biết ra bên ngoài nước mình, cháu mới càng thấy một điều là cái kiểu đúc người (“giáo dục”) ở ta trong những năm chiến tranh quả là tuyệt diệu. Đó là “triệu người như một”, đều tăm tắp, tuân lệnh răm rắp, không giống bên Tây nó “đúc” thì ra mỗi người mỗi kiểu. Duyên do thì nhiều lắm, cháu xin kể lể vài điều ra đây. Số là dân mình tuyệt đại đa số vốn đã nghèo khổ, ngoài việc chả biết gì ngoài lũy tre làng, lại phải chịu ảnh hưởng đủ thứ tư tưởng, văn hóa Nho Khổng, Phật, Lão nhưng bị thăng trầm méo mó đi qua bao đời, nên con người ta sống rất chi là khiêm nhường, yếm thế với “bề trên”, không kênh kiệu như bên Tây. Đến khi cách mạng nổi lên, giành độc lập, họ được bảo là mình giờ thành ông bà chủ xã hội hết rồi, nhưng khốn nỗi lại cứ bị các bố đầy tớ (tức là cán bộ - “đầy tớ của nhân dân”) mắng mỏ dạy bảo đủ kiểu, từ trẻ nứt mắt cho tới già kề miệng lỗ. Thành thử bà con chả biết đâu mà lần, càng phải khiêm tốn tợn, phát triển thêm luôn cái đức tính giả vờ nữa, tức là nói, nghĩ một đằng làm một nẻo. Điều này vô cùng là móc xích với cái công nghệ đúc người ở ta. Cụ thể là bọn trẻ con chúng cháu là nhân dân, thì nhẽ ra thầy cô, đến cả các bác bộ trưởng nữa, phải là đầy tớ của chúng cháu, đúng với cái khẩu hiệu của chế độ, là phải hết lòng phục vụ. Thế nhưng sự tình nó cứ ngược lại hết làm cho chúng cháu quen dần cái lối sống giả vờ mà ngày nay các bác đang khốn khổ để “tuyên chiến”, ấy là “gian dối trong thi cử”, “bệnh thành tích trong giáo dục”.

Khởi đầu là cái “cá nhân” trong mỗi con người luôn được đè nén xuống dí dị; làm gì, nghĩ gì cứ là vừa phải theo “tập thể”, “đoàn thể”, vừa phải tin tưởng tuyệt đối ở “trên” (tức là ở các ông bà đầy tớ). Từ ngày còn bé tẹo, chúng cháu đã biết nhận thức là mình rất ngu, rất hư, rất chi là “cá nhân chủ nghĩa,” nên mọi hoạt động phải đi vào khuôn phép. Nào là hát đồng ca, vỗ tay đồng loạt, tập đánh vần cũng phải đồng thanh theo nhịp thước cô gõ chan chát (có nhẽ để sau này nhớn lên mà phát triển cái “đồng tình”, “đồng chí”, “đồng lòng”...?) Học được mấy bài hát mà thấy bài nào cũng có từ “ngoan”, “cố gắng”, “không khóc nhè” nên nó ngấm vào máu cái tính “ngoan” hết mực, đói mấy cũng phải tươi cười tin tưởng phơi phới. Kế đến là cái khoản “xin-cho” thôi thì đủ kiểu. Đến cả buồn tè, mót ị mấy cũng phải giơ tay xin phép, cô cho thì mới được đi, không thì cố mà nín, đùn ra đấy là rất hư, hết cả “phiếu bé ngoan”. (Ngày qua ngày, càng già cháu càng rõ là cái cảnh xin xỏ này nó cứ diễn ra suốt đến lúc chết. Nào là xin vào trường học, xin đăng ký hộ khẩu, xin khai sinh, khai tử, xin khai thành tích để được khen... Còn cái chuyện “nín” thì càng lớn lên càng giỏi, cháu xin nói ở phần sau). Cô kể chuyện xong mà không vỗ tay là hỗn, cũng hư là cái chắc. Thành thói quen như từ cha sinh mẹ đẻ để sau này cấp trên có nói (bậy) ra cái gì cũng cứ vỗ tay rào rào, làm láo mà cũng phải khen nức nở.

Cháu “ngoan” từ lò đúc ra


Nhớn lên tí, học cái kiến thức thì cũng rất đặc biệt, chúng cháu được vun đắp thật là nhiều, những thứ rất cao siêu nhưng thuộc “phe ta” thôi; những gì về thế giới bên ngoài, của kẻ địch, hay phe khác thì được coi là nọc độc nên rất hạn chế. Còn chuyện hai bên đánh nhau thì cũng toàn ta dũng cảm, khôn ngoan, thắng ào ào, địch thì hèn nhát, ngu si nên thua chạy như vịt cả. Viết bài luận về thơ, văn của các vị nổi tiếng, nhất là có chức sắc nữa, là cứ phải khen ngất giời chứ cấm có được chê, kể cả hơi “băn khoăn” tí cũng ăn điểm không là còn nhẹ. Làm văn về đất nước là phải “rừng vàng biển bạc”, phải có “gương người tốt việc tốt”, “chế độ ta tươi đẹp”. Tóm tắt là cái gì của ta, từ “trên” là “cực kỳ” (đúng, tốt), còn của địch là khốn nạn hết. Trong quá trình vun đắp là phải căng tai trợn mắt ra mà lĩnh hội, chứ đứa nào nhỡ có hơi “thiên nhiên” tí, nảy nòi ra cái tính thắc mắc, cãi bướng, ưa tranh luận là mệt ngay. Cái kiểu dạy “thầy đọc trò chép” mà giờ các bác đang khốn khổ loại trừ phát sinh chính từ đây, nó giúp cho chúng cháu là những kẻ được “lập trình” vào đầu ngay từ tấm bé cho những nhận thức là ý kiến của “trên” thì chỉ có đúng, phải tuân theo răm rắp, kẻ nào không đồng ý với “trên” là coi như kẻ thù. Còn đã là kẻ thù thì ắt xấu xa, phải tiêu diệt nếu như không chịu cải tạo.

Để được rèn giũa thì ngoài thầy cô còn có tầng tầng lớp lớp các đoàn thể ngay từ nhi đồng, thiếu niên... kèm cặp cho chúng cháu ngày càng ngoan (nghĩa là kiểu “gọi dạ bảo vâng”, “đặt đâu ngồi đấy”), có thêm “tinh thần tập thể”, giảm bớt cái “cá nhân” đi (mà giờ cháu mới hiểu là bên Tây nó hay gọi là có “cá tính”). Chưa hết, lại còn một lực lượng kiểu cảnh sát dân sự biệt danh là “Cờ đỏ”, tai mắt của thầy cô, xem có đứa nào vẫn còn hư không, làm cho đứa nào cũng cảm giác khó hiểu về bạn bè mình, còn mình thì lại tập cái tính sống ít hồn nhiên đi, thích phát hiện những đứa bạn hư để hớt lẻo với cô, để được công tích cho đỡ bị bảo là hư, là ngu. Mà chuyện công tích thì quan trọng khủng khiếp, trong hơn cả một đời người, từ khi đẻ ra cho qua cả lúc chết rồi. Vì có nhiều danh hiệu vô cùng để phấn đấu mà đạt cho được. Đứa nào không được danh hiệu thì sợ hãi khủng khiếp, cảm giác như bị bọn có danh hiệu nhìn ngắm mình như quái vật; vì số này rất ít, nên dưới đẳng cấp này thì chỉ còn có bọn tội phạm đi tù, cải tạo thôi. Để có danh hiệu là phải qua những công đoạn chấm điểm rèn luyện kỷ luật, từ đầu tóc, quần áo, nói năng, giờ giấc, rồi bọc, dán nhãn, giữ gìn sách vở sạch đẹp... (nhiều không kể hết được, cho cả cá nhân và tập thể). Thế rồi tính toán, “cân đối”, bình bầu, kèm theo là nhiều cuộc họp hành nữa. Cả trường xếp hàng nghe đọc điểm thi đua mỗi tuần, điểm cao là được khen, thấp là bị bêu riếu. Không khí ganh đua kèn cựa nhau từng li một muốn nghẹt thở, cứ gọi là mụ mị cả người, cảm giác tội lỗi, hèn kém luôn thường trực trong mình. Lại còn luôn luôn được hô những khẩu hiệu đạo đức mà những chữ “khiêm tốn”, “đoàn kết”, “kỷ luật” cứ gọi là ưu tiên hàng đầu.

Trong mọi ngôn từ hàng ngày cho tới bài vở viết ra chúng cháu đều được dạy những từ ngữ rất chi là hoành tráng, gọi là ngôn ngữ ngợi ca. Nên cái không khí chung là cực kỳ... (xin lỗi, cháu không tìm ra được từ nào để diễn tả nữa). Và các bác sẽ chả lạ gì cái lối làm “bài văn mẫu” ngày nay đầy dẫy là có ngọn nguồn từ đây. Đến như cái “khẩu hiệu” nhiều năm nay trường nào cũng có, nghe rất chi là “đậm đà bản sắc dân tộc”, là “tiên học lễ, hậu học văn”, mà nào có mấy ai từ thầy đến trò được hiểu cho đúng cái chữ “lễ” của cụ Khổng Tử nó mênh mông đến nhường nào đâu. Cứ nghĩ theo lối tộc tệch là bọn trò chúng cháu phải trước hết “thấm nhuần” cái thái độ “lễ bái”, “lễ độ”, “lễ phép”, nhũn như con chi chi, có khi lại phải dâng “lễ lạt”, “lễ vật” nữa (tức là có... “phong bì”, “con gà nải chuối” cho thầy cô).

Ngoài nhà trường ra thì khắp nơi hang cùng ngõ hẻm, trong xóm ngoài làng, xưởng máy, ruộng đồng, cơ quan, đoàn thể, đêm ngày bằng mọi phương tiện từ báo, đài, thơ, truyện, ca, múa, nhạc, kịch, thể thao... cả “chuyên” và “không chuyên”, chúng cháu luôn luôn được tiếp tục “hun, đúc” không ngừng tất tật những gì thuộc về lòng trung thành, tin tưởng tuyệt đối, tự hào vô cùng về hiện tại, tương lai đất nước, chế độ, “bề trên”, căm thù tận xương tủy kẻ thù xấu xa. Tức là cái gì cũng có ranh giới tuyệt đối: tốt và xấu, ta và địch. Nên cái chữ “trồng người” nó phải được gọi là “đúc người” mới phải. Nghĩa là không có chăm bón, vun xới, nâng niu theo lối mơn trớn, “dân chủ giả hiệu” gì sất, mà là nung chảy, đổ khuôn, rèn, đột, dập, mài, dũa, cắt gọt, đánh bóng cho đến nhẵn thín, tròn xoe ra mới... vẫn chưa thôi.

Thế là những lớp người được trở nên vô cùng hoàn hảo, chả có chống đối, nghi ngờ, thắc mắc, tơ tưởng “đứng núi nọ trông núi kia”. Bảo đi là đi, bảo đánh là đánh, không một tí tiếc rẻ tài sản, máu xương. Sống cực kham khổ nhưng vẫn tươi hơn hớn, có biết bên ngoài người ta sống ra sao, nghĩ cả thế giới này cũng vậy, phần thì tin tưởng, phó thác ở “trên” dẫn lối chỉ đường hết. Cả triệu người như một hàng quân, tay nào khác đi một tẹo, dù là ý nghĩ, ánh mắt là trơ thổ địa ra, dễ bị nghi là phản động ngay, ít ra cũng là “thiếu kiên định”, phải tự đấm ngực kiểm thảo. Những diện có thể có những biểu hiện khác thường nhất, như là các nhà thơ, văn, nhạc..., dễ bất ngờ “thai nghén” những sản phẩm tinh thần trái cựa có nguy cơ ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu, lòng trung thành tuyệt đối, thì cũng được luyện làm sao các sản phẩm đó không những vẫn ở trong vòng kiểm soát (được gọi là theo “định hướng”) mà còn phải trở thành những khẩu hiệu hành động nóng dẫy. Những nhu cầu bản năng của con người từ ăn uống cho tới làm tình đều bị phỉ nhổ là thấp hèn, phải cố mà nín nhịn, kể cả nín không được mà tuôn ra thành văn, xổ ra thành tranh là cũng “ăn đòn” ngay; ngộ nhỡ có hơi tham tí mà “ăn vụng” lại không biết “chùi mép” là thôi rồi, tương lai mờ mịt luôn (dạo ấy có cái từ nghe còn kinh hơn án tử, gọi là “hủ hóa”. May quá giờ hiếm ai nhắc đến nữa).

Vì rõ là mọi thứ nó đều có “suất” cả (giờ gọi là “bao cấp”). Sợ chết, thèm ăn, thèm “sinh hoạt” cũng phải bảo là không sợ, không thèm. Tức là cái trình độ nghĩ một đằng, nhưng nói, làm một nẻo điêu luyện lắm, như được “lập trình” sẵn cả rồi. Tóm tắt lại thì cháu tự cảm thấy mình như thể một thứ người-máy-sinh-học, được đúc ra từ cái phân xưởng đúc mà các bác gọi là “ngành giáo dục,” lại còn được nhiều phân xưởng khác gọt dũa, “mông má” thêm, nên giờ nhớn như lão già rồi mà nhìn ra thế giới thấy mình vẫn còn non nớt lắm. Cứ thế, cái thế hệ người-máy này lại quay lại rèn đúc, đẽo gọt thế hệ người-máy khác (nói bỏ quá, chứ cháu biết các bác cũng nằm trong số này, có khác chăng là thuộc loại “chất lượng cao” thôi - tức khả năng bắt chước, giả vờ, tuân lệnh răm rắp là hơn hẳn đồng loại). Cũng thi thoảng có vài người-máy do bẩm sinh hoặc quy trình đúc bị lỗi mà sinh cái tật hay có ý kiến riêng là được căn chỉnh ngay. Đó là loại bướng bỉnh, thiếu ý thức tập thể, tinh thần đoàn kết, bản lĩnh chính trị kém. Mà căn chỉnh tức là “kiểm điểm”, “kỷ luật”, “mất thi đua”... cuối cùng là ảnh hưởng đến lương, thưởng, tem phiếu. Vậy là đâu lại vào đấy. Thật là tuyệt!

Báo hại cho phe địch cứ cậy giàu có văn minh mà không biết là đánh nhau với những lực lượng này thì chỉ có thiệt trở lên. Vì bên họ thì không có cái lối đúc người như thế này, mỗi sản phẩm mỗi kiểu, nên nó có cuộc sống rất là “cá nhân chủ nghĩa”. Nào là thắc mắc, đấu tranh, buồn nhớ nhà thì rên rỉ, hát nhạc vàng, rượu chè cờ bạc, ăn diện phè phỡn, gái mú. Ngoài đời họ cũng chả có đông đảo các ban ngành đoàn thể, phát động tuyên truyền, văn hóa tinh thần để rèn đúc theo kiểu “đồng tâm nhất trí” như ta; đã vậy lại còn để cho nhiều đoàn thể, báo đài nói cái giọng phản tuyên truyền lung lạc ý chí chiến đấu của quân dân nữa chứ. Nhất là cái lối thấy đánh nhau bị thua, chết nhiều quá là xót, đòi xem với xét. Thế thì khác gì bàn lùi, là nhận mình kém cỏi, không có chính nghĩa. Như thể hai phe dàn trận ra, một bên thì “triệu người như một” đều bắn, cùng a-la-sô đánh chí chết, chấp nhận hy sinh vô hạn, còn bên kia thì lại phải cãi nhau tiến hay lùi, không “tin tưởng ở trên”, lo thiệt hại nhiều nhân mạng. Thua sặc tiết là cái chắc! Thế mà giờ vẫn còn cãi nhau như mổ bò là vì sao bị thua. Giá chịu khó ngó đến lịch sử xa xưa thì sẽ thấy xã hội này được tổ chức cũng hao hao như cái thị quốc quân sự hùng mạnh Sparte ở Hy lạp thế kỷ thứ V trước Công nguyên, để mà biết mà dàn hòa chịu thiệt ngay từ đầu thì có phải yên chuyện không.

Đó là tóm tắt vài biểu hiện trong cái công tích của cỗ máy đúc người, chứ đi sâu chỉ ra hết, phân tích rõ thì đa dạng, thâm thúy vô cùng tận, phải những trí thức học giả mới làm nổi.

Tội

Thế rồi hòa bình lập lại, nhiều năm sau nữa mà cái cỗ máy đúc này nó chạy lại còn khoẻ hơn hẳn xưa. Hình như cũng có nhiều vị hay chữ kiến nghị phải thay nó đi, đơn giản là xưa “đúc” chiến binh là chính, giờ thì phải “trồng người” như bên Tây để cho ra nhiều trí thức, công nhân bậc cao, nông dân giỏi công nghệ. Xưa đánh nhau lo mất nước, có phe nọ phe kia, nên cần “muôn người như một”. Giờ đâu còn lo nữa, thế giới đơn cực, chế độ thì vững như bàn thạch rồi, lại còn chơi với tất tật, kể cả những loại ngày xưa là kẻ thù nữa. Với lại cái trò đúc ấy cũng có mặt trái kinh khủng, làm cho ta thiếu hẳn những người-thật. Trước nay mình toàn “đúc”, mà người ta thì “trồng”; như cái cây ấy, chăm bón, vun xới rồi tự nó nhớn lên mơn mởn mỗi cây mỗi vẻ, chứ cứ khuôn hình “đúc” ra cứng nhắc, khô không khốc thì có mà đánh nhau mãi à? Hậu quả đau đớn là cứ bị mắc hết sai lầm này đến sai lầm khác, mới ngộ ra là vì ta quá thiếu người-thật, chỉ rặt những người-máy thôi, nào có dám cãi lại khi thấy “trên” làm sai!

Thêm nữa là do “trên” thì các bác quản đốc, giám đốc biết thân biết phận, tâm niệm cái câu “ba anh hàng da thành anh Gia Cát Lượng” nên lãnh đạo theo lối “tập thể”, chứ không chơi kiểu “cá nhân” như bọn tư bản. Yên tâm quá, có chuyện gì thì cũng chịu trách nhiệm “tập thể”, tức là “hòa cả làng.” Cùng lắm là các bác đổ tại cái thằng... “cơ chế”, sợ gì chuyện làm sai, nên càng hay sai. Các bác lại còn thích kiểu ăn quả chắc, nên tuyển toàn loại người-máy thôi, ngại tuyển người-thật vì chúng nó hay cãi, dám hỗn láo vạch mặt cả cấp trên. Nhưng người- máy thì trông nó cứ “muôn người như một” nên cũng cực kỳ khó chọn, lý lịch anh nào thấy cũng na ná như anh nào, toàn “chấp hành”, “trung thành”, “khiêm tốn” cả. Các bác đành tổ chức thi... “chạy”. Anh nào “chạy” khoẻ là ăn. Nhưng hóa ra những tay “chạy” khoẻ thì làm việc lại cực ngu. Thế là các bác lại càng dễ mắc thêm sai lầm nữa.

Nhưng có lẽ các bác vẫn tính là thể nào cũng còn đánh nhau? Hay là cần các trí thức có phong cách như chiến binh người-máy? Hay các bác thấy giờ vi tính, rô-bốt ở tây nó phát triển quá nên nghĩ mình cả nửa thế kỷ nay thế là đi đúng cái kiểu “đi tắt đón đầu” rồi (đúc được người-máy)? Nên cỗ máy đúc vẫn cứ được dùng tiếp. Thi thoảng có tiếng kêu ca thì các bác lại xê dịch nó đi tị tẹo, sơn phết vào, hô là “cải cách”! Thế là yên chuyện.

Nhưng cái lũ người-máy-sinh-học giờ nó cũng quái ra phết. Không thấy đánh nhau nữa, lại thấy nhờ có cái “cơ chế thị trường” nên các người-máy có "cương vị" sống hơi bị Tây quá chứ không kham khổ như xưa nữa. Còn nhìn ra ngoài thì mới thấy là mình “thua em kém chị” ghê gớm. Thế là chúng nó nhao nhao lên. Một số thì lăn vào mà kiếm tình, tiền các kiểu, trong khi vẫn giữ cái vỏ người-máy. Số khác thì cố công nhồi nhét kiến thức bị hổng bao lâu nay, chỉ có điều nó vẫn bị cái thói quen là nhút nhát, sợ sệt không sửa được mấy, nên nhiều khi có cái sáng kiến cũng đành câm miệng, sợ dạy khôn người trên là bị mắng “thiếu khiêm tốn”, “gây mất đoàn kết nội bộ”. Cũng có một số ngộ ra là mình phải được có tí quyền này nọ chứ không thể như lớp trước mãi. Vậy là nảy sinh những xung đột xưa nay chưa từng thấy. Như tại xưởng đúc, nhiều thợ đúc bắt đầu áp dụng các ngón nghề cai ngục như ép học thêm, tra tấn, hỏi cung, lăng nhục người-máy, nhưng họ thường chỉ nhắm vào những loại hiền lành, ù lì thôi (khôn thế, chứ tra tấn loại người-máy khùng khùng có khi lại bị nó tra tấn lại thì khốn. Vì cũng có vài vụ người-máy nổi điên “xử lý” thợ đúc rồi). Đến độ nhiều người-máy bị hỏng “phần mềm”, bác sĩ gọi là căng thẳng, là bị bệnh tâm thần, nói năng hành động lung tung, có những trường hợp tự tử nữa mới kinh. Tình trạng này giờ nhiều quá, công luận lên tiếng đòi có giải pháp, làm cho các bác quản đốc rối tinh không xoay xở kịp.

Trâm bị thầy truy bức hoá điên


Khổ nữa là trong cái công cuộc “ra biển lớn” này (tức là làm ăn, quan hệ với khắp thế giới), những người-máy được đúc ra theo công nghệ cũ ngày càng bộc lộ kém cỏi. Vì không quen tự học hỏi, thường thụ động nên đơn giản là ra biển gặp sóng to gió lớn, cá mập, cướp biển nó rình rập mà cứ “gọi dạ bảo vâng”, “đặt đâu ngồi đấy”, chả có sáng kiến tối kiến gì cho ra hồn; khó khăn tí thì lại đòi về xin ý kiến chỉ đạo của “trên”, “trên” lại thỉnh thị “trên” nữa, hoặc dở “cẩm nang” ra đọc, thì có mà làm mồi cho bạch tuộc tư bản, nó chả phải vươn vòi gì mà cũng kiếm ăn tại chỗ được.

Vậy mà nhiều năm nay, cỗ máy cổ quái này lại còn được gia cố để hoạt động mạnh hơn. Vì tình hình hai chục năm qua theo cái “cơ chế thị trường”, nhiều vị chức sắc cũng “kiếm” ra phết, cả danh lẫn lợi (nói trắng ra là chức tước, đô-la và bằng cấp, thành tích rởm), đến độ nổi tiếng ra cả thế giới chuyện ta bị giặc nội xâm tham nhũng nó đánh, chả kém tiếng tăm ngày xưa ta đánh giặc ngoại xâm; thế nhưng các em người-máy có biết được bác nào là “giặc” thì cũng im thin thít, an toàn quá chứ còn gì. Lại có nhiều người-máy có cương vị vào là muốn được đúc lại, nâng cấp, dán thêm tem nhãn cho oách, dễ được lên làm đốc công, quản đốc... Cả xã hội giờ cứ như một đại công trường đúc người-máy. Các kiểu đúc: đúc giả, giả vờ đúc, đúc lại, giả vờ đúc lại, giả vờ đã được đúc, đúc “tại chức”, đúc “từ xa”, đúc “thường xuyên”, đúc kiểu nâng cấp, kiểu khẩn cấp, “đẳng cấp quốc tế” nữa (nghe nói đang có phương án), vân vân và vân vân, mà lại vẫn cứ rập khuôn theo cái công nghệ cũ ấy. Cỗ máy đúc giờ phải tăng ca, ngày tới 4-5 ca mà vẫn không hết việc, thế mà các bác lại còn mới đưa ra chỉ tiêu phải đúc nâng cấp thêm mấy chục nghìn nữa mới ghê. Cung không kịp cầu nên tức khắc phát triển cực mạnh cái dịch vụ mua bán tem nhãn chứng nhận rởm là đã được đúc, được nâng cấp (mới thử kiểm tra cái tỉnh gì trên Tây Nguyên mà đã ngót gần hai nghìn vị “dính” rồi). Thử hỏi làm sao mà thay cái cỗ máy này đi được, nhất là ai cũng thấy “đúc” dễ hơn “trồng” rất nhiều, cho cả thợ đúc lẫn người-máy. Chỉ thấy thay hết đời bác quản đốc này lại đến bác quản đốc khác mà điều tiếng thì ngày càng nhiều là tại sao chất lượng người-máy ngày càng tệ. Rồi còn nảy sinh ra đủ kiểu phong phú, như thi thoảng lại có bác quản đốc phân xưởng khác muốn được giả vờ đúc lại, giả vờ nâng cấp để được tại vị hoặc lên chức giám đốc, mà to thế thì phải chiều chứ. Chưa kể mỗi khi các bác có hô hào “từ nay chấm dứt cái trò giả vờ đúc nhé” (tức là phát động “nói không với bệnh thành tích”, “chống gian dối trong thi cử”), cũng không ăn nhằm gì, vì các phân xưởng khác họ cũng “làm giả, ăn thật” đầy dẫy ra cả rồi, mà thu nhập, năng suất của họ lại còn bằng vạn phân xưởng đúc. (Nên nói trắng ra là người nhớn, “bề trên” không làm gương chống gian dối, “bệnh thành tích” trước đi mà lại bảo trẻ con, kẻ nghèo hèn chống thì chống thế nào được).

Thành thử công nhân phân xưởng của các bác cũng phải thi đua tăng thu nhập với họ thì mới sống nổi chứ. Vậy là các người-máy nay được đúc ra thậm chí còn tệ hơn với sản phẩm của cái lối “nhanh, nhiều, tốt, rẻ” ngày xưa. Mệt nữa là các phân xưởng khác còn có đủ những quyền hạn khống chế cái xưởng đúc này để mà “vào guồng” cùng với mình. Ví như bên thiết kế (kiểu như tuyên giáo í mà), hay bên tài vụ (giống cái ngành tài chính ấy), quyền hành họ rất to, không nghe theo là họ “siết hầu bao”. Nhưng cũng chả thể đổ tại thiên hạ hết được vì cái công nghệ đúc của các bác nó quá lỗi thời rồi, trẻ con giờ nó lên vi tính, nhoằng một cái là nó biết hết ở bên Tây người ta thế nào, thế mà các bác cứ muốn nó phải nghe, phải tin những lời giáo lý theo kiểu “nói vậy mà không phải vậy” mãi sao được. Các bác cũng nào có chịu tin là bao nhiêu tệ nạn xã hội, giặc nội xâm tham nhũng, trò giả vờ ở cái xã hội này một phần chính là do cái lối đúc người của các bác mà ra.

Có điều, thỉnh thoảng cũng thấy thương các bác thật. Ấy là chuyện các công nhân đúc, họ vốn xuất thân cũng người-máy cả, quen cái công nghệ cổ quái này rồi, giờ đổi lại là họ chóng mặt, “chập mạch” ngay. Rồi xoay đủ kiểu để đánh bài cù nhầy. Nhất là giờ họ phải lo nhiều hơn tới cuộc sống, vì của đáng tội, lương ba cọc ba đồng sống sao nổi, nhìn ra ngoài thì đâu đâu cũng kiếm mạnh quá, họ có phát khùng lên, hay không chịu cố mà đổi từ “đúc” sang “trồng” cũng không lạ. Vừa rồi các bác mới hứa đại là mấy năm nữa thì lương họ được nâng lên mức “đủ sống”. Nói hay thế! Thế nào là đủ sống, sống dật dờ, hay sống phây phây? Thế lâu nay chả phải là họ vẫn sống, có thợ đúc nào chết đói đâu? Làm sao họ tin được. Càng rõ là ngay trong bản thân nhiều vị trong số các bác cũng không nhận ra hoặc không chịu nhận là mình có những thói quen cũ khác gì những công nhân đúc dưới mình đâu, thậm chí còn nặng hơn nhiều. Thật nan giải vô cùng!

Chợ phao


Vậy thì thấy ngay là muốn thực sự đúc (trồng) được người-thật theo kiểu tiên tiến như bên Tây, phải bắt đầu bằng các bác lãnh đạo nhà máy, rồi tất tật các phân xưởng khác nữa đồng tâm nhất trí mới được. Đằng này các bác chỉ ở tầm quản đốc phân xưởng đúc thôi, đơn thương độc mã mà xoay xở, thì có bị nó nuốt chửng cũng chả oan. Chưa nói tới chuyện (xin lỗi các bác đừng giận) trong số các bác, nhiều vị i-qui (IQ) cũng hơi bị cao, biết tỏng là chẳng đi đến đâu, nhưng thôi thì tặc lưỡi chấp nhận cống hiến theo kiểu “ngậm miệng...” là khoẻ. Nên bao nhiêu năm nay cứ nghe các bác “cải cách” hết đợt này đến đợt khác xoành xoạch, mà toàn theo kiểu “giật mình,” tức là theo lối hình thức, manh mún, vội vã, chứ không có chiến lược lâu dài gì cả. Thành thử cái ngành “đúc người” càng đi vào ngõ cụt thêm, càng nhiều thêm chuyện tồi tệ trong học hành thi cử, từ các quan chức, thầy cô cho tới học trò.

Từ bé cháu đã nghe mãi lời giáo huấn “... vì lợi ích trăm năm trồng người”, nhưng cháu nghĩ quả tình chả thấy các bác trồng trọt gì mấy, thấy toàn là đúc thôi, ra rặt những người-máy, còn người-thật khan quá. Cái lợi ích thì cũng có, nhưng nó nặng về trước mắt vài năm để phục vụ chiến tranh, chứ làm gì được tới trăm năm, cho việc xây dựng đất nước, chưa nói tới chuyện “lợi bất cập hại” thì vô cùng tận, khó mà nói ra được hết.

Chữa trị

Giờ thì chắc các bác sẽ mắng “thế mày giỏi thì hiến kế đi xem nào”! Vâng, cháu xin hiến kế, để chia sẻ cái cơn vật vã của các bác với công cuộc “trồng người” này.

Thứ nhất: trước hết nếu đồng ý với những lý sự này của cháu, rằng cái lối đúc người bao năm nay là nguyên nhân đem đến nhiều thói tật tệ hại, ăn vào máu mấy thế hệ, vào mọi ngõ ngách của cuộc sống, dưới đủ mọi hình thức, mức độ, giờ thay đổi là vô cùng khó, vướng víu nhằng nhịt với cả thiết chế xã hội, thì các bác hẳn đọc tiếp.

Thứ hai: các bác đừng sợ là “trồng người” theo kiểu Tây thì sinh ra những loại người-thật là sẽ “khó bảo”, hay “chống đối”, là mình “mất chế độ”. Nghĩ thế là các bác không tin tưởng vào đường lối đổi mới của “trên” rồi. Còn cứ sợ bóng sợ vía, lại cả nuối tiếc cuộc sống phè phỡn với bọn giặc nội xâm, rồi đâm ra nhùng nhằng, giả vờ cải cách, chẳng kiểu nào ra kiểu nào, dở Tây dở ta chẳng những tốn kém vô cùng, mà còn đúc ra thêm những người-máy quái dị nữa thì càng gay. (Thí dụ chả đâu xa, cái bác quản đốc xưởng đúc vừa về hưu ấy, rất tỉnh, biết tỏng là mình cũng dạng người-máy, nên xin tiền nhà máy để sang Tây cho nó “trồng” lại mình thành người-thật, chả biết để về mà làm gì. Thế là sinh chuyện dở mếu dở cười). Với lại cháu đọc sách mới biết là cách nay cũng cả trăm năm rồi, các cụ tiền bối mà ta tưởng là cổ hủ đã từng khuyên là phải học Tây, Nhật cái cách “trồng người” chứ có phải không đâu. Khi nước mình còn nô lệ, có cụ còn bỏ tiền túi ra đưa khối mầm non sang Nhật cho họ “trồng” hộ, đến lúc vừa độc lập mình còn mời nhiều vị được Tây thực dân nó “trồng” về giúp đất nước giỏi phết. Chưa hết, nhiều vị còn tranh thủ học Tây tại chỗ nữa, nên trội hơn hẳn, mới được tôn lên cầm đầu cách mạng. Thế là một phần nhờ những vị này, được học Tây, Tây học mà nên người-thật, để sau đó ta cướp lại được chế độ lần nữa chứ nào có mất mát (chế độ) gì đâu.

Hãy đóng cửa lò “đúc” thôi!


Có điều hình như nhiều bác cũng vẫn đinh ninh, là lối đúc người này của ta lâu nay, chính là học theo “Tây” từ lâu rồi, nên cứ yên trí vậy mà theo. Nhưng các bác hơi “bị” nhầm. “Tây” mà ta học theo ở đây thực ra là Tây-đông, tức là nước Liên-Xô, thành trì XHCN đã sụp đổ mười mấy năm nay rồi. Mà bố này sụp đổ thì ta còn chạy theo học làm gì nữa, có mà học cái bóng ma! Hay là các bác cũng muốn...?

Thứ ba: khi đã “quán triệt” hết rồi (tức là phải cả ban giám đốc nhà máy, nhiều phân xưởng cũng chịu cắn răng mà theo), thì ta phải tìm ra tất tật những biểu hiện của lối đúc người theo kiểu cũ, mà cháu mới đưa ra được có vài ví dụ ở trên thôi. Tìm quyết liệt như truy nã tội phạm ấy. Phải nhấn mạnh là nó nhiều vô cùng vô tận, chọc sâu cắm rễ cực chắc vào toàn bộ đời sống xã hội, các ban ngành đoàn thể, tác động khủng khiếp tới cái công cuộc “trồng người”. Từ những ngôn ngữ cửa miệng (ví dụ ngay như cái từ “quán triệt” cháu quen mồm mà vừa dùng ấy, cũng nên bớt đi), chữ nghĩa trên sách, báo, diễn văn, bài học, khẩu hiệu, giọng điệu nói năng hàng ngày kêu cứ choang choang (như trên vô tuyến cứ ra rả “Mỗi người tốt, mỗi việc tốt là một bông hoa đẹp. Cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp”, e là thứ hoa sớm nở tối tàn, nên bỏ dần)... cho đến tác phong, thái độ, hành động cư xử giữa con người với nhau, đâu đâu cũng thấy tràn ngập cái lối đúc người lồ lộ. Tiếp đến là các danh hiệu này nọ thôi thì nhiều vô thiên ủng, các đoàn thể gọi là “quốc doanh” với những bộ máy khổng lồ. Hai thứ này mấy chục năm nay tham gia vào cái công cuộc đúc người vô cùng đắc lực. Tạm gọi các đoàn thể này như những phân xưởng đánh bóng, mạ kền cho sản phẩm đúc. Còn những danh hiệu này nọ lại như cái nhãn mác “hàng Việt Nam chất lượng cao”... Tất cả nó đi vào luôn chuyện dạy dỗ, nhìn nhận, đánh giá con người, không theo kiểu “trồng”, mà là “đúc.”

Thứ tư: khi tìm ra hết rồi, giờ mới đến cái thực sự được gọi là “tuyên chiến”. Đó là tuyên chiến với cái bệnh hoạn này trong toàn xã hội, chứ không phải chỉ riêng trong cái ngành đúc người của các bác. Mà tuyên chiến là rất nghiêm trọng rồi (như kiểu chiến tranh giữa hai nước), thì phải lập tức đưa ngay vào hệ thống luật pháp. Phải sửa luật giáo dục, luật báo chí, luật thi đua khen thưởng (nên cho luật này teo dần), luật dân sự (cả luật nhà giáo, luật về hội mà các bác đang tính làm nữa) v.v…, để có biện pháp áp chế từ kỷ luật cho tới phạt tiền, bỏ tù những ai mắc cái căn bệnh đúc người theo lối cũ. Sửa lại, thay thế hết những sách, báo, văn bản rặt những ngôn ngữ kiểu đúc người.

Có luật rồi thì phải có cái bộ máy nó chấp hành luật này. Vậy là cái tòa án để xét xử phải được coi trọng, được độc lập, phát triển mạnh vào, để cho phép học trò nó kiện cả nhà trường nếu vi phạm, chứ đừng coi đó là hỗn. Vì ta cứ hô chế độ ta dân chủ gấp triệu lần chế độ cũ thì phải chứng tỏ ra chứ.

Có hai cái này rồi, giờ nếu bố bộ trưởng nào mà có bằng tiến sĩ theo kiểu “học giả bằng thật”, nhân viên nó kiện ra tòa là mất chức như chơi. Trẻ con nó nhìn vào đó mà hãi, không dám học kiểu lếu láo nữa. Thầy cô mà lại đi hành hạ, đấm đá, cưỡng bức học trò, dạy kiểu “đọc-chép”, “làm bài văn mẫu”, “lớp mẫu”, “giờ dạy mẫu”, không chịu khích lệ tự học, tranh luận là nó cũng kiện ra tòa luôn. Quan tòa nào mà kiếm cớ không xử thì cũng bị... ra tòa luôn. Bố nào mà quen mồm, đọc diễn văn toàn kiểu “thành công rực rỡ”, “phấn khởi thi đua”, “đồng tâm nhất trí” là phạt tiền luôn, thậm chí đưa ngay vào trường để được “trồng” lại theo chương trình mới. Có thể lúc đầu thì các bác chưa quen, dễ bị ăn phạt, phải châm chước tí chút, nhưng rồi dần dần sẽ quen thôi, là ổn.

Nhưng có lẽ các bác lại bảo “phạt lắm thế, mà lương thì ba cọc ba đồng, lấy đâu mà nộp?” Ấy là cái chuyện xã hội hóa giáo dục, y tế. Khởi thủy là do các bác cứ cố, cứ vội mà chứng tỏ chế độ ta ưu việt hơn bọn Tây tư bản, vì sợ không làm nhanh thì lại “mất chế độ”, nên chơi kiểu “nhà nước lo tất”; rồi lại sợ thả ra cho tư nhân thì lại chả phổ cập được cái công nghệ đúc người, lo nó trồng người kiểu tư bản thì mình cũng “mất chế độ”. Khốn nạn là nhà nước giờ đang còn nghèo lấy đâu ra tiền mà “lo tất”. Báo hại vô cùng, “ôm tất” rồi chả còn tiền mà trả lương cho các bác để có ngày nộp phạt. Nhưng giờ bỏ kiểu đúc này rồi, mà chuyển sang trồng người hẳn hoi, thì phải nhanh chóng cho phát triển tư nhân để họ gánh đỡ cho nhà nước chứ gì nữa. Còn sợ “mất chế độ” á? Cứ sợ thế nên mới mất lòng tin, mất nhân tài, tài nguyên... thậm chí mất cả thể diện quốc gia, rồi có ngày mới mất chế độ vào tay bọn giặc nội xâm thật ấy chứ.

Nhưng cũng phải đề phòng khả năng các vị lập pháp lại không đồng lòng sửa những luật này, vì thực tình trong ngót 500 vị, thể nào cũng không thiếu những vị chịu ơn nghĩa cái lối đúc người cũ. Vậy chỉ còn cách nữa là ông chủ tịch nước ra cái sắc lệnh, bao quát hết luôn, chiếu vào đó mà thực hiện thôi.

Song song với luật (sắc lệnh) và tòa là phải có cái bộ máy để tẩy não cho người-máy, tức là tuyên truyền. Mà những bộ máy này cũng phải được quản chặt bằng luật, nếu lơ-tơ-mơ tuyên truyền theo kiểu cũ là cũng phạt. Nhất là phải cho các vị này đi học, tự học, tự đọc tử tế mà thấm nhuần, biết chọn lọc trong những giáo lý Phật, Lão, Khổng đẹp đẽ cao quý từ ngàn đời cả thế giới người ta kính nể, rồi đưa vào cuộc sống, vào nhà trường, chứ cứ để các vị “tự biên tự diễn” chế ra những lời dạy, khẩu hiệu của mình mà bắt người ta tin như là của thánh hiền bao năm nay là nguy hiểm vô cùng.

Còn chuyện nan giải nữa là những thợ đúc, đông đúc như thế mà thay đổi để họ đều biết cách trồng trọt là khó lắm. Phải đưa họ đi trồng lại thôi. Ai lo chuyện này? Đành giật gấu vá vai vậy. Đó là những thợ đúc trông đỡ giống người-máy nhất, nói trắng ra đó mới thực sự là thành phần ưu tú. Thêm nữa là khi đỡ lo “mất chế độ” rồi thì phải mạnh dạn mà thuê thợ trồng trọt bên Tây, nhất là số anh chị em định cư bên ấy thuộc diện gọi là “một bộ phận của dân tộc” về để cùng mở lớp. Ta cứ lặng lẽ mà làm thôi, đừng hô hoán là “đẳng cấp quốc tế” này nọ như lâu nay, chả lại bị phạt. Có tốn kém, thiếu kinh phí thì cứ cắt bớt ngân sách của mấy cái phân xưởng đánh bóng, mạ kền đi cũng tạm ổn, vì số này ngốn tiền là hơi bị kinh.

Thế là “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, tuyên chiến với một thứ giặc giã mới từ nhà trường cho tới xã hội - giặc gian dối, giả dối, háo danh hão, hám thành tích cuội, u mê, đớn hèn... rồi sinh ra tham nhũng.

Nhưng cũng còn nhiều biện pháp lắm, chứ chả phải làm qua quýt mà xong đâu, cháu cứ nôm na tạm vậy đã, để phần cho các chuyên gia của các bác lo tiếp.

Cháu xin hết và cũng xin các bác bỏ quá nếu cháu ăn nói có hàm hồ, hỗn xược, vì cháu vẫn còn non nớt như đã thưa ngay từ đầu.

Kính chúc các bác khoẻ, luôn tỉnh táo để khỏi bị cái máy đúc nó nuốt chửng mất sự nghiệp.

Nguyễn Hữu Vinh

Hồ cấu kết với Pháp để tiêu diệt các đảng quốc gia: Thỏa hiệp 14/9/1946

Thỏa hiệp 14/9/1946: Hồ cấu kết với Pháp để tiêu diệt các đảng quốc gia

by saigonxua @ 2007-02-24 - 23:28:29

Thỏa hiệp 14/9/1946:
Hồ cấu kết với Pháp để tiêu diệt các đảng quốc gia (kỳ 2)
Hứa Hoành

LTS: Bài viết dưới đây của cố học giả Hứa Hoành và đã được đăng tải trên một số báo chí trước đây. Nhân dịp 30 Tháng Tư, chúng tôi đăng tải lại một số bài viết của ông, để độc giả có thêm tài liệu khi tìm hiểu về Cộng Sản Việt Nam trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp.
Vì bài viết này khá dài, chúng tôi xin được đăng tải làm hai kỳ liên tiếp. Kỳ trước chúng tôi đã đăng tải phần I, nay xin đăng tiếp phần 2.
Kỳ 2 (tiếp theo và hết)

Ðiều thứ IX:
Tha thiết bảo đảm càng sớm chừng nào càng hay chừng ấy, ở Nam Bộ và miền Nam Trung Kỳ, sự khôi phục một trật tự công cộng vừa cần thiết cho nguyện vọng tự do về các quyền tự do dân chủ vừa vãn hồi, và nhận định những phản động lực may mắn phát do sự ngưng những hành động xung đột và bạo động của đôi bên. Chính phủ Pháp và chính phủ Cộng Hòa Việt Nam, đồng thảo các biện pháp sau đây:

a. Ðôi bên chấm dứt tất cả những hành động xung đột và bạo động.

b. Những hiệp định của các bộ tham mưu Pháp Việt, sẽ quy định các điều kiện thi hành và kiểm soát những biện pháp quyết định chung.

c. Những tội phạm hiện còn bị giam cầm về nguyên do chính trị, sẽ được thả ra, chỉ trừ những kẻ bị truy tố về hình sự và thường phạm (droit commun). Với những tù binh bắt được trong các cuộc hành quân, cũng sẽ quy định y như thệ Việt Nam đảm bảo không truy tố bất cứ người nào đã cộng tác hoặc trung thành với Pháp quốc, và chẳng dung tha bất cứ bạo hành nào chống những kẻ ấy. Bù lại, chính phủ Pháp cũng đảm bảo không truy tố bất cứ người nào cộng tác với Việt Nam, và không dung tha bất cứ bạo hành nào chống lại kẽ ấy.

d. Việc hưởng các quyền tự do dân chủ giải thích ở điều khoản thứ I, sẽ được đôi bên đảm bảo lẫn nhau.

e. Sẽ chấm dứt những sự tuyên truyền bất hữu ái của đôi bên.

f. Chính phủ Pháp và chính phủ Cộng hòa Dân Chủ Việt Nam, sẽ cộng tác với nhau, để làm cho kiều dân các nước nghịch cũ, không làm hại gì được nữa.

g. Một nhân vật do chính phủ Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam đề cử, và được chính phủ Pháp công nhận, sẽ được gởi tới bên Thượng sứ Pháp, để cộng tác và thi hành những điều thỏa thuận nầy.

Ðiều thứ X:

Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Việt Nam, đồng ý chung tìm cách ký kết những hiệp định riêng về tất cả vấn đề có thể đưa ra hầu thắt chặt tình hữu nghị, và dọn đường để ký kết một hiệp ước chung vĩnh viễn. Cuộc thương thuyết sẽ tiếp tục về mục đích nầy sớm chừng nào càng hay, và trễ lắm là vào tháng Janvier 1947.

Ðiều thứ XI:

Toàn thể những điều khoản trong “Thỏa hiệp án” nầy chia làm hai bản, sẽ được thi hành vào ngày 30 Octobre 1946.” HCM và Jean Sainteny trên chiếc thủy phi cơ đi Vịnh Hạ long để ký HĐ sơ bộ 6.3.46 cho Pháp trở lại VN Ðọc qua nội dung, chúng ta thấy rõ Hồ Chí Minh nhượng bộ Pháp gần như đầy đủ các quyền lợi như hồi Việt Nam còn là thuộc địa của nước Pháp. Ở vào hoàn cảnh lúc đó, người ta mới thấy sự thiệt thòi của Việt Nam. Với hiệp ước tạm 14/9/46 hay “Tạm ước” nầy, nước ta chỉ hưởng được những từ ngữ mới “Nước Việt Nam Cộng Hòa Dân Chủ”, được tự dọ, còn sự thật, người Pháp nắm tất cả mọi ngành, từ chính trị, quân sự, ngoại giao, quan thuế, tiền tệ. Lý do thầm kín là ông Hồ cần dựa vào Pháp, cần cộng tác với Pháp, để có thì giờ tận diệt người quốc gia. Với đảng Cộng Sản Ðông Dương lúc đó (dù trên danh nghĩa giả bộ giải tán từ 11/45), nước Pháp không phải là kẻ thù trước mắt. Các đảng Ðại Việt, Quốc Dân Ðảng, Ðồng Minh Hội, Cao Ðài, Hòa Hảo, Trotkyst.... tuy là đồng bào ruột thịt, cùng một mục đích tranh đấu giành độc lập, nhưng bị ông Hồ và Việt Minh coi như thù địch không đội trời chung. Ðó là chính sách, đường lối của ông Hồ và mặt trận Việt Minh, rồi Liên Việt. Vì cần bảo vệ sự độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng Sản, ông Hồ phải bí mật tiêu diệt tả hữu, từ Trotkyst đến người quốc gia, không cho một mầm mống nào tồn tại.
Trong con mắt của ông Hồ thời đó, nước Pháp bấy giờ là “nước Pháp mới”, vì có tổng bí thư đảng Cộng Sản Pháp Maurice Thorez làm phó thủ tướng chính phủ. Trong chuyến đi Pháp lần này, ông Hồ còn đem theo 20 kg vàng, tặng cho báo l“Humanité, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng Sản Pháp, để họ làm cái loa ủng hộ ông ta và Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Vì thế khi vừa đặt chân lên Paris, ký giả Simonne Terry của l“Humanité liền viết một bài “l“Oncle Hồ” (Bác Hồ), để ca ngợi ông ta.
Sự thật chính cái “nước Pháp mới” đã đổ bộ vào miền Bắc Việt Nam, đưa quân chiếm các vị trí hiểm yếu, đang sẵn sàng đè bẹp các cuộc chống đối của kháng chiến VM. Ðiều này có hại cho dân tộc Việt Nam, nhưng có lợi cho riêng ông Hồ và đảng Cộng Sản của ông ta.
Hồi các năm 1945 - 46, Việt kiều tại Pháp có đoàn kết, nhưng không suy tôn, thờ phụng Hồ Chí Minh như thần thánh, không làm lễ sinh nhựt của ông ta như đảng Cộng Sản Việt Nam mong muốn. Họ ủng hộ Việt Minh trong chừng mực nào đó, và phản đối ông Hồ trong “Thỏa hiệp án 14/9/46”, cũng như Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/46.

Xin nhắc lại tình hình của người Việt tại Pháp hồi năm 1946. Khi ông Hồ sang Pháp, thì cộng đồng Việt kiều ở đây khoảng 14.000 người, gồm lính thợ, công binh, một số ít gia đình, du học sinh có mặt ở Pháp. Cộng đồng Việt kiều có đoàn kết, nhưng không “đoàn kết trong mặt trận VM, không chịu nhận sự lãnh đạo của Việt Minh (Xem thêm Ðặng Văn Long “Người Việt ở Pháp, trang VIII đến IX). Cần phân biệt có hai thứ đoàn kết:
Một là “đoàn kết trong mặt trận VM”, “đoàn kết chung quanh bác Hồ” Còn đoàn kết theo nghĩa thông thường, để gây sức mạnh, thì lúc đó không còn nữa. Một người có nhiều kinh nghiệm về “đoàn kết” là ông Bùi Tín, viết: “Ðoàn kết trong mặt trận Việt Minh, trong mặt trận Liên Việt, hay trong mặt trận Tổ Quốc... có nghĩa là theo sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản, vâng lời đảng Cộng Sản, chịu mọi sự áp đặt của đảng Cộng Sản. Nói khác với đảng, cãi lại đảng là “vi phạm tinh thần đoàn kết”, là nhằm cách phá vỡ khối đoàn kết, là có tội, có khi tội rất nặng” (Mặt thật, trang 120).
Dù chưa có kinh nghiệm với VM, Việt kiều có lẽ cũng thấy rõ những âm mưu thầm kín của họ Việt kiều chỉ đoàn kết để tranh giành độc lập cho nước Việt Nam, nhưng không tranh đấu dưới ngọn cờ của VM, của Cộng Sản. Vì lẽ đó, khi vừa tới Pháp, ông Hồ tìm cách phá vỡ khối đoàn kết (không chịu theo VM). Ông tìm cách phá hoại sự đoàn kết của người theo chủ nghĩa quốc gia với những người Trotkyst, tức Cộng Sản đệ tứ, kẻ thù không đội trời chung của ông Hồ, tức Cộng Sản đệ tam.
Tại Pháp, ông Hồ không thể dùng chính sách khủng bố để tiêu diệt những kẻ “không chịu đoàn kết trong mặt trận VM” Ông Hồ sử dụng âm mưu về chính trị “kêu gọi công binh, Việt kiều” hãy đoàn kết chung quanh bác Hồ“ Sống lâu trên đất Pháp, người Việt nhiễm tư tưởng tự do, không bị gò bó như dưới chế độ thuộc địa. Họ tố cáo ông Hồ khi thấy ông để lộ gian ý “ủng hộ nước Pháp mới”, tức nước Pháp thực dân, chỉ vì có lãnh tụ Cộng Sản Pháp làm phó thủ tướng chính phụ Việt kiều cũng tố cáo “Liên hiệp Pháp” chính là đế quốc trá hình mà ông Hồ không ngớt ca tụng.... Bây giờ, ông Hồ đường đường chính chính là chủ tịch nước, do quốc hội bầu cử gian lận (xem “Trần Trọng Kim” Một cơn gió bụi, trang 104) tấn phong.
Ông Hồ tìm mọi cách dựa vào đảng Cộng Sản Pháp để nhờ họ giúp đỡ. Khốn nỗi, khi chưa chiếm được chính quyền, đảng Cộng Sản kêu gọi “hãy giải phóng các dân tộc thuộc địa”, giải phóng giai cấp bị bốc lột. Ðến khi Maurice Thorez trở thành phó thủ tướng chính phủ, còn nhiều đảng viên trở thành bộ trưởng, thì Cộng Sản Phap liền trở mặt: “Cỡ đại Pháp phải được cắm lại trên các thuộc địa” (Thorez). Báo l“Humanité, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng Sản Pháp, số ra ngày 3/8/44, ủy viên trung ương đảng Cộng Sản Pháp tuyên bố: “Nhân dân Pháp muốn rằng xứ Ðông Dương, cũng như các đại thuộc địa khác, sẽ trở về nước Pháp đầy đủ, không mất một tấc đất nào, để xây dựng một cộng đồng Liên bang Ðại Pháp” Tháng 1/45, tờ nhựt báo “Ce Soir”, cơ quan của đảng Cộng Sản nhấn mạnh: “Là một đại cường quốc, nước Pháp phải được tham gia vào cuộc chiến ở Thái Bình Dương. Là một đại cường quốc có thuộc địa, nó (Pháp) phải giữ lấy thuộc địa ở khắp nơi và tái chiếm Ðông Dương” (Ðặng Văn Long, Người Việt ở Pháp 1940 - 1954, trang XII).

Hồ Chí Minh cử ông Trần Ngọc Danh (em ruột Trần Phú) làm đại diện chính thức cho chính phủ tại Pháp từ năm 1946. Ðể lôi kéo những người không thích Cộng Sản, Danh tuyên bố “Hồ Chí Minh không phải là người Cộng Sản” Chưa hết, Danh còn cho in lại bài phỏng vấn của nhà báo Thụy Sĩ, trong đó Hồ Chí Minh nói: “Các bạn của Việt Nam đừng quá lo ngại, chủ nghĩa Cộng Sản không thể nào du nhập được ở xứ tôi”. Rõ ràng chính ông là cán bộ quốc tế cộng sản, đã đem chủ nghĩa Cộng Sản vào Việt Nam từ thập niên 1920, mà bây giờ ông lại phủ nhận điều đọ Quả thật, đây là thủ đoạn của ông Hồ. Ông nói láo không ngượng miệng.
Nên nhớ khi, còn ở Tân Trào, ông tâm sự với mấy người Mỹ trong toán OSS, đang huấn luyện cho du kích của ông: “Những cán bộ lãnh đạo VM, đã bị mật thám Pháp vu cáo là Cộng Sản” (Chính Ðạo “HCM: Con người. Huyền thoại”, trang 357). Còn trong báo “Ðộc Lập” (tức Cộng Sản trá hình) xuất bản ngày thứ ba 4/9/45, trong danh sách chính phủ “quốc gia” liên hiệp, ông Hồ: chủ tịch kiêm ngoại giao “đảng quốc gia”. (Xin xem tờ báo đính kèm với bài nầy).
Qua thỏa hiệp án nầy, cũng như trong Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/46, Hồ Chí Minh đã bán rẻ quyền lợi quốc gia dân tộc, kéo dài thêm cuộc kháng chiến, để củng cố quyền lãnh đạo của Cộng Sản. Chiêu bài “độc lập”, “tự do” cũng chỉ là những công cụ tuyên truyền lừa dối. Mặt trận Việt Minh, cũng như người sáng lập ra nó (ông Hồ), chỉ là một cái công ty chuyên môn lừa bịp, khủng bố, đàn áp, nhưng lại ngụy trang trong bộ mặt đấu tranh “giải phóng dân tộc”
Ngoài một số trí thức có nghiên cứu về chính trị, biết rõ thủ đoạn của Cộng Sản, còn đại đa số người dân, hay quần chúng Việt Nam, vì chưa có kinh nghiệm, lại nóng lòng vì độc lập, tự do, nên trở thành viên gạch lót đường cho Việt Minh Cộng Sản tiến tới mục đích cuối cùng của họ.

Nhận xét về “Thỏa hiệp án 14/9/46”

Khoản thứ 1:
Việt Nam lúc đó tự nhận là một quốc gia độc lập, có chủ quyền (dù không một nước nào trên thế giới nhìn nhận), mà lại nhường cho Pháp các quyền tự do như chính trong nước của họ là tại sao?
Tạm ước cho phép người Pháp được tự do cư trú, đi lại sinh sống, ngôn luận, văn hóa, có khác nào như Pháp sống trên lãnh thổ của hỏ Ðiều đó có nghĩa là hiện ta đang chiến đấu chống ngoại xâm, tự mình buông khí giới, dùng lời nói, giấy mực... tiến hành đánh Pháp. Lại còn cho Pháp tự do buôn bán, kinh doanh không giới hạn ở nước ta, thì như vậy có khác chi tình trạng một thuộc địa như trước đây. Trong lịch sử, chưa có một quốc gia nào chống ngoại xâm theo kiểu ấy.

Khoản 2:
Việt Nam đồng ý trao trả lại cho người Pháp tất cả xí nghiệp, tài sản... tất cả những thứ mà ta đã tịch thu của Pháp, như vậy là trái với cương lĩnh Mặt Trận VM từ năm 1941. Nói một đàng, làm một nẻo. Hồi chưa chiếm được chính quyền, ông kết án chế độ Pháp tại Ðông Dương: “Tại các thuộc địa Pháp, cảnh khốn cùng và đói khát ngày càng gia tăng, nổi uất hận càng dâng cao, tinh thần phấn đấu của nông dân....” vậy mà khi đã chiếm chính quyền, ông lại dễ dàng thỏa hiệp với Pháp, nhường cho Pháp đầy đủ các đặc quyền như thời thuộc địa, tại sao? Ðể Pháp tiếp tục đàn áp, bốc lột để thống trị Việt Nam thêm một thời gian nữa, đặng ông ta rảnh tay tiêu diệt đối lập trong chinh phủ liên hiệp?

Khoản 3:
Cho Pháp tự do đặt chương trình giáo dục, mở trường học các cấp, dạy văn hóa Pháp không hạn chế, như vậy chủ quyền độc lập của Việt Nam ở đâu? Tại sao ông Hồ phải nhượng bộ các quyền lợi cho Pháp như vậy?

Khoản 4:
Khi cần, Việt Nam phải ưu tiên mướn chuyên viên của Pháp. Ðiều nầy giống như VC bây giờ buộc các công ty nước ngoài ở Việt Nam, phải thuê mướn người do đảng cộng sản giới thiệu là ưu tiên, là một điều kiện không bình đẳng.

Khoản 5:
Là nước tự do, nhưng Việt Nam chấp nhận không có tiền tệ riêng, phải xài chung đồng bạc của các xứ liên bang Ðông Dương. Tiền tệ do chính ngân hàng Ðông Dương của Pháp phát hành, chớ không phải của Việt Nam. Hơn nữa đồng bạc Ðông Dương phải phụ thuộc vào đồng franc (phật lăng) của Pháp. Như vậy đâu còn là một quốc gia tự do như đã khẳng định ở trên.

Khoản 6:
Việt Nam nằm trong Liên hiệp Pháp về giao thông, vận tải, có nghĩa là Pháp tự do định đoạt, vì Việt Nam đâu có phương tiện, máy móc tàu bè gì. Về ngoại giao, Việt Nam muốn giao thiệp với ai, phải do Pháp quyết định, như vậy có khác gì thời thuộc địa? Tại sao ông Hồ lại chấp nhận cho chính phủ Pháp quyết định vấn đề ngoại giao của ta, trong khi ta không có quyền dòm ngó, can thiệp vào việc ngoại giao của Pháp?

Khoản 9:
Việt Nam phải nhìn nhận cuộc kháng chiến ở Nam Bộ từ ngày 23/9/1945 đến 14/9/1946 là bất hợp pháp, là “phá rối an ninh trật tự” Là người dân Việt Nam, quý độc giả nghĩ sao? Việt Nam tuyên bố chống Pháp giành độc lập, nhưng bây giờ ông Hồ hợp tác với Pháp toàn diện, thỏa mãn tất cả yêu sách của Pháp, như vậy ông Hồ phản bội quyền lợi dân tộc hay yêu nước như tuyên truyền?
Ðình chiến mà không đặt điều kiện có nghĩa là quân Pháp đi tới đâu ta cũng không được đánh. Việc thả tù binh, theo định nghĩa “tù chính trị” cũng rất mơ hộ Người Pháp đưa quân đến đây để dàn áp, chém giết nhưng người Việt Nam chống lại, bây giờ lại “ân xá” trong khi cuộc chiến còn tiếp diễn. Ngoài ra Việt Nam cũng như Pháp, phải chấm dứt tuyên truyền ác cảm chính là một sự lừa phỉnh. Ðiều nầy Pháp biết, ông Hồ biết, nhưng cứ giả bộ thành thật để dối gạt lẫn nhau, để ông Hồ có thì giờ khủng bố, sát hại đồng bào, vì yêu nước, tranh dấu giành độc lập như ông, nhưng không chịu “đoàn kết trong Mặt Trận Việt Minh” với ông mà thôi. Chiến tranh kiểu gì kỳ cục vậy?

Các quyền tự do mà Pháp hứa cho Việt Nam chẳng qua là một sự rao hàng, phỉnh phờ, nhưng ông Hồ dùng nó làm vốn liếng để tuyên truyền đặng câu giờ để tàn sát những phần tử yêu nước, muốn tranh giành với Việt Minh Trên các sách báo từ năm 1945, Việt Minh luôn tự hào là một quốc gia độc lập “nhà nước công nông đầu tiên ở Ðông Nam Á”, nhưng lại chấp nhận tất cả mọi yêu sách của thực dân như hồi còn là thuộc địa. Dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ông Hồ được mối lợi gì, chẳng qua chỉ là cái bánh vẽ. Ðối với ông Hồ, tất cả chỉ là phương tiện, nhưng có điều tất cả những phương tiện của ông Hồ sử dụng đều có hại cho quyền lợi quốc gia dân tộc quá nhiều. Chiến thuật có hại cho dân tộc chính là sự phản quốc. Mà ông Hồ dùng các chiến thuật phá nát đất nước, tàn bạo, giết hết người yêu nước, như vậy ông Hồ chính là kẻ phản quốc, chứ không có công trạng gì với đất nước như cộng sản thêu dệt, bịa đặt để khoa trương..
Là cán bộ cộng sản quốc tế thuần thành, ông Hồ thuộc nằm lòng các thủ đoạn của đàn anh. Ông mô phỏng các mánh mung ấy nhưng không nêu xuất xứ. Bọn đàn em cứ bịa đặt thành tích rồi râm ran ca tụng như thần thánh. Nào “Bác vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê vào hoàn cảnh Việt Nam”, nào “tư tưởng Hồ Chí Minh”, sự thật tất cả chỉ là sự bịa đặt.
Thủ đoạn ông Hồ bắt tay với Pháp để ký liên tiếp hai hiệp ước sơ bộ 6/3/ 1945 và thỏa hiệp án 14/9/1946, chỉ là sao y mánh khóe của Lenin sau cách mạng 1917 tại Nga. Mánh khoe ấy là “nhịn giặc ngoài để diệt thù trong”
Ðó là lý do Lenin ký hiệp ước Brest - Litovsk vào ngày 3/3/1918. Hiệp ước nầy cũng gần như đầu hàng Ðức Áo, để rảnh tay tiêu diệt kẻ nội thù của đảng cộng sản. Ông Hồ còn bắt chước chiến thuật “tiêu thổ kháng chiến” của Nga hồi thế chiến thứ hai.

Tuy nhiên, vì quá nô lệ, ông không phân biệt được chỗ đúng và sai Nga là quốc gia hàn đới, mùa đông cần chỗ trú ẩn, điện nước. Phá hủy nhà cửa, cắt điện nước, tức là làm cho quân địch phải tuyệt vọng vì không thể “sống ngoài trời, thiếu điện sưởi ấm và nước để uống. Còn áp dụng tiêu thổ kháng chiến ở Việt Nam, phá dinh thự, nhà cửa, không làm cho Pháp thiệt hại gì cả, vì họ đóng quân ngoài đường, trong rừng, có nước uống. Ðó là sai lầm lớn và tội trạng của ông Hồ và Mặt Trận Việt Minh, vì tới nay, trên nửa thế kỷ qua, khắp nơi trên đất nước, còn nhiều cây cầu bị Việt Minh phá hủy, chưa khôi phục lại được. Còn các tổ chức Mặt Trận Việt Minh, nêu khẩu hiệu lừa bịp “Kháng Nhật cứu quốc”, cũng như các tổ chức “chiến khu”, “quân giải phóng”, “cứu quốc”, “Việt gian” tất cả đều là sự rập khuôn, mô phỏng theo tổ chức của Mao Trạch Ðông.

Ông Hồ không có bất cứ một sáng kiến gì cả. Lợi dụng thời cơ kẻ địch xâm lăng Việt Nam, Pháp Nhật, ông Hồ và Mặt Trận Việt Minh đeo mặt nạ, lớn tiếng rêu rao “giải phóng dân tộc, chiến đấu giành độc lập, tự do” tất cả đều là sự giả dối, có mục đích chiếm chính quyền, rồi tiến hành đưa đất nước vào quỹ đạo quốc tế cộng sản.
Chớp được cơ hội Nhật đầu hàng, Pháp chưa trở lại, Việt Minh từ rừng sâu treo bảng cách mạng, nhảy lên địa vị chính phủ một cách bất hợp pháp, mưu đồ giành lấy chủ quyền độc tôn, để bành trướng chủ nghĩa cộng sản ra các lân quốc, theo sách lược của cộng sản đệ tam. Mọi sự nhân nhượng, cấu kết với Pháp qua hai hiệp ước kể trên, không phải do tình thế bắt buộc: đó là sự dự mưu đã được ông Hồ phác thảo từ lúc mới chuẩn bị cướp chính quyền. (Tưởng Vĩnh Kính, Hồ Chí Minh Tại Trung Quốc, Thượng Huyền dịch, tr. 371-) “Ông Hồ thà nhường cho Pháp tiếp tục thống trị Việt Nam thêm một thời gian, chứ không muốn cho các dẳng phái Việt Nam khác, đứng ra lãnh đạo một nước Việt Nam độc lập”, Ðó chính là ý đồ thầm kín của ông Hồ.
Các hành động của ông lúc nầy (1946), chỉ xoay quanh ý đồ cộng sản độc chiếm chính quyền mà thôi. Ông Hồ gặp gỡ kiều bào trên đường về Khi hay tin Hồ Chí Minh sẽ ghé thăm và nói chuyện về hiệp ước 14/9/ 1946, kiều bào Việt Nam tổ chức cuộc đón tiếp ngày 17/9/1946. Lúc đó ở Pháp, có tin đồn chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sẽ bị ám sát trên đường về nước (Ðặng Văn Long, người Việt Ở Pháp, tr. 117). Ðiều nầy đã chứng tỏ thái độ bất mãn của Việt kiều với ông Hồ. Trên đường xuống Toulon về nước, ông Hồ qua sân vận động, là chỗ 3,000 Việt kiều tập họp để chào đoán phái đoàn. Ông Hứa Văn Nên đọc diễn văn, bày tỏ sự băn khoăn thắc mắc của kiều bào đối với hiệp ước sơ bộ 6/3/1946 và thỏa hiệp án 14/9/1946. Lý do chính phủ nhượng bộ cho Pháp quá nhiều, gần như đầu hàng. Ông Nên nói: “Chúng tôi không chống đối việc thương thuyết, nhưng thấy chủ tịch nhường cho Pháp quá nhiều quyền lợi về kinh tế, chánh trị, hơn cả hiệp ước sơ bộ 6/3/1946.” Ðáp lại thái độ của công binh và của Việt kiều hồi ấy, Hồ Chí Minh không một lời nói đến sự lo ngại của công binh, mà bắt đầu bằng một sự kiện khác: “Hội nghị Fontainebleau tuy không thành công, nhưng là một thắng lợi của phái đoàn quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Không thành, nhưng hội nghị Fontainebleau là một thắng lợi của nhân dân ta, thắng lợi của toàn thể nhân dân yêu chuộng hòa bình ở khắp thế giới“ “Thay mặt chánh phủ và quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do toàn dân bầu cử (chỗ nầy sai, chỉ có miền bắc và vài tỉnh Trung kỳ, mà bầu cử gian lận), tôi khuyên kiều bào là công việc chánh trị để cho những người chuyên môn giải quyết, kiều bào hãy cố gắng chăm lo học lấy một cái nghề tinh xảo, để góp vào việc kiến thiết quốc gia. Ðất nước chúng ta cần đến những người con có nghề nghiệp tinh xảo. “Tôi nhắc lại một ý kiến mà kiều bào đã biết là nước ta như người có ruộng mà không có thóc, nước Pháp là người có thóc mang sang trồng ở ruộng ta, đến vụ gặt hái đem chia đôi, hai bên cùng có lợi, có phải như thế không? Kiều bào hiểu chưa?”
Không một tiếng trả lời. Hồ Chí Minh nhắc lại “Kiều bào hiểu chưa?” Hơn 3000 người im phăng phắc, ngoài một tiếng phía gần cuối hàng vụt lên “hiểu rồi” Ðó là tiếng nói của một công binh Cơ ngoại hạng tên Nguyễn Văn Trọ” (Ðặng Văn Long, sđ. tr. 117).
Còn tờ báo Nam Kỳ, số ra ngày thứ hai 23/9/1946, vừa binh vực Pháp, vừa khen ông Hồ như sau: “May thay, ở phương Bắc, còn có người biết quý sinh mạng của thanh niên Pháp và Việt Nam, còn có người biết nhân nhượng, còn có người biết cố gắng, còn có người chịu khó tìm hiểu nhau, người đó là cụ Hồ Chí Minh, ông Vũ Hồng khanh và ông Saintena. ba ngươi đã ký hiệp ước Pháp Việt ngày 6/3/1946” Nhưng cùng với sơ ước 6/3/1946, thuyết chia rẽ ra đời, làm cho cuộc xung đột Pháp Việt kéo dài ở Nam bộ “Hội nghị Ðà Lạt. hội nghị Fontainebleau không thành, người ta đã tưởng tượng tới cảnh núi xương sông máu cùng khắp non sông nước Việt. Song vẫn có người sáng suốt thấy xa, vẫn có người thành thật muốn hiệp tác và chấm dứt cuộc đổ máu tai hại cho cả đôi bên, nên đồng ý ký hiệp ước tạm thời 15/9/1946 (nguyên bản) để cứu vãn tình hình nghiêm trọng, chấn chỉnh nhân tâm, phục hưng kinh tế trong khi chờ sang năm 1947, ký một hiệp ước vĩnh viễn. Người đó lại là cụ Hồ Chí Minh với ông Bidault, thủ tướng Ðệ tứ cộng hòa Pháp....” Chắc chắn lời khen nầy không giá trị, vì chỉ cuối năm, chiến tranh bùng nộ Hai bên Pháp và Việt Minh đều bịp lẫn nhau, nhưng giả bộ như thật, để chuẩn bị mở rộng chiến tranh.
Chỉ có người quốc gia theo chủ nghĩa dân tộc bị thiệt thòi. Lý do, ông Hồ tạm hòa với Pháp, để tiêu diệt người cùng đoàn kết với mình trong chính phủ liên hiệp. Ðó là ý đồ thầm kín của ông Hồ và thực dân Pháp. Còn dưới đây là ý kiến của một nhân chứng thời cuộc, đã tham dự vào Mặt Trận Việt Minh, chúng ta càng thấy rõ thủ đoạn của ông Hồ:
“Làm thế nào biết được khi ông ta (Hồ) lầm lũi trong đêm khuya đến nhà riêng xin ký với Marius Moutet? Làm thế nào biết được khi ông ta (Hồ) cho Pháp tất cả mọi điều Pháp muốn, từ đồng bạc đến nền ngoại giao, khi một người đàn bà vô học, cứ van lạy không thôi, cũng đòi lại đôi chút quyền lợi, nhiều hơn tạm ước 14/9” (Nguyễn Kiên Trung, Ðem Tâm Tình Viết Lịch Sử, tr. 79).

Thắng lợi tại quê nhà Như trên đã nói, ông Hồ và hai đoàn dân biểu, bộ trưởng vừa thành lập chính phủ, đã kéo rốc sang Pháp, kể chủ tịch mới được tấn phong. Công việc nước nhà bề bộn: Pháp đưa quân chiếm đóng các tỉnh miền bắc, chiếm các vị trí hiểm yếu. Nội bộ Việt Nam cũng rối ren không kém. Các đảng còn tranh chấp nhau, tố cáo lẫn nhau vì chánh phủ nói một đàng làm một nẻọ Nước Pháp cũng rối ren, chưa sẵn sàng đón tiếp quốc khách công du. Tuy vậy, ông Hồ vẫn cứ đi, đi cho vắng mặt tại Việt Nam. Ông đã có mưu đồ thầm kín. Các bộ trưởng của chính phủ mới cũng đi để khỏi thấy cảnh đồng viện, đồng bộ trưởng ở nhà đang bị sát hại bởi cái chính phủ mà họ đang tham gia.
Vừa về tới Hà Nội, Hồ Chí Minh họp báo tuyên bố “Chúng tôi quyết đoạt được độc lập, nhưng chúng tôi cũng quyết định sống trong Liên Hiệp Pháp (đế quốc trá hình). Nước Pháp yêu chuộng dân chủ và tự do. Không lý do nào mà Pháp từ chối. Tôi dám cam kết rằng chính phủ Pháp đã có ý định thi hành nghiêm chỉnh tạm ước vừa ký kết”
Chỉ 3 tháng sau, Pháp tấn công toàn diện! “Tạm ước nầy rất cần thiết, tiện sự giao hảo giữa hai nước Pháp Việt, trước khi hội nghị tháng giêng tới đây.” (Nam Ðình, tài liệu lịch sử, tr. 364)
Rõ ràng lời tuyên bố của ông Hồ đều hoàn toàn xảo trá. Các sự kiện xảy ra sau đó mấy tháng đã chứng minh sự thật. Về tới Hà Nội, điều đầu tiên ông Hồ hài lòng là tất cả nhân vật thuộc các đảng quốc gia tham dự chính phủ liên hiệp đều bị loại: kẻ bị giết, người bị bắt cóc thủ tiêu, người bị giam cầm nơi kín đáo, còn người nhanh chân thì đã vượt biên sang Trung Hoa.

Bây giờ Việt Minh một mình một chơ Ðảng Dân Chủ vẫn được giữ lại làm bình phong để Việt Minh ngụy trang trong đó. Như vậy, ông Hồ phải lập chính phủ mới với các thành phần mới trong Mặt Trận Liên Việt, tổ chức cộng sản trá hình thứ hai, để thế giới không thấy rõ cả chính phủ đều là cộng sản! Vì thế quốc hội nhóm càng sớm càng tốt. Ông Hồ âm thầm ra lịnh triệu tập quốc hội vào ngày 28/10/1946. Trước ngày nhóm quốc hội, Võ Nguyên Giáp bố ráp một lần nữa, bắt hết cán bộ của những đảng đối lập, nên từ ngày 23 đến 27/10, có hơn 200 người “tình nghi đối lập” bị bắt và bị thủ tiêu như Vũ Ðình Chí, biên tập viên báo Việt Nam (Quốc Dân Ðảng), thường viết bài xã thuyết chống Việt Minh, chống lập trường của chính phủ. Sau đợt nầy, không còn dối lập nữa. Ðúng ngày 28/10/1946, quốc hội nhóm tại nhà hát lớn.

Lần nầy chỉ còn 210 dân biểu hiện diện, 70 dân biểu đối lập thì lớp bị thủ tiêu, hoặc đang trốn, nay còn lại không quá 20 người và cũng ngã theo Việt Minh. Ba ngày đầu, không có gì quan trọng. Ngày thứ tư 31/10/1946, Hồ Chí Minh ra trước quốc hội trình bày những hoạt động của chính phủ từ 6 tháng nay, để rồi từ chức, ông viện lẽ “tình hình biến chuyển, cần có một chính phủ mạnh mẽ hơn để đối phó mọi biến cộ“ “Quốc hội hoan nghinh (vì toàn thể đều là Việt Minh của ông Hồ), rồi biểu quyết tặng Hồ Chí Minh danh hiệu “công dân thứ nhứt Việt Nam”, đồng ý giao cho Hồ Chí Minh lập chính phủ khác. Ba ngày sau (3/11), Hồ Chí Minh lại ra trước quốc hội trình thành phần chính phủ mới:
- Hồ Chí Minh: chủ tịch kiêm ngoại giao, Vài ngày sau,
- Hoàng Minh Giám được cử làm thứ trưởng.
- Võ Nguyên Giáp: bộ quốc phòng
- Tạ Quang Bửu: thứ trưởng quốc phòng.
- Huỳnh Thúc Kháng: bộ nội vu
- Hoàng Hữu Nam: thứ trưởng nội vụ
- Phạm Văn Ðồng: thứ trưởng kinh tế
Chắc quý độc giả cũng thấy vắng các vị như Nguyễn Tường Tam (Việt NamQÐ), Nguyễn Hải Thần (Ðồng Minh Hội), Vũ Hồng Khanh. Cả ba đã trốn sang Tàu! Còn bác sĩ Trương Ðình Tri (Ðồng Minh Hội) cũng bị loại ra khỏi hàng ngũ Nghiêm Kế Tổ thì tự ý rút lui vì hiểu rõ tâm địa cộng sản.

Ðó là bề mặt.

Quyền hành thực sự nằm trong tay Tổng bộ Việt Minh, tức trung ương đảng Cộng Sản: đó là các ông Hạ Bá Cang, Trần Huy Liệu, Trường Chinh, Trần Ðăng Ninh. Bước thứ nhất đã được ông Hồ thực hiện: loại tất cả đối lập trong chính phụ Có điều ông khéo ngụy trang: vắng mặt để Giáp ngụy tạo tội trạng, tấn công các đảng quốc giạ Việt Minh truy đuổi họ đến tận biên giới Lào Cay hay Lạng Sơn để thực hiện việc “Việt Minh độc chiếm chính quyền, không chia xẻ với bất cứ ai“
Sách Hồ Sơ Ðệ Tứ Việt Nam thuộc Tủ sách Nghiên Cứu Paris 2000, trang 13 viết “Cũng đi từ quan niệm độc quyền lãnh đạo, ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam đã mở cuộc diệt trừ tả hữu từ Trotkyst đến quốc gia, không cho một mầm mống nào đối lập có thể trồi lên được

Trước đó mấy tháng, cuối năm 45 đầu 46, chính ông Hồ van nài các đảng đối lập “hợp tác tịnh thành với Việt Minh”, bây giờ chính ông triệt hạ họ một cách tàn bạo. “Ðoàn kết” thực tế là như vậy. Theo chủ trương che giấu sự thật lịch sử, bưng bít các hành động phản bội và phản quốc của mình, ông Hồ và đảng Cộng sản Việt Nam không bao giờ dám cho đăng lại toàn bộ nội dung các bản hiệp ước: hiệp ước sơ bộ 6/ 3/1946, thỏa hiệp án 14/9/1946.
Bản chúng tôi có trong tay do báo Nam Kỳ, thân Pháp, không phải của Việt Minh ở Saigon, đăng lại. Ðiều nầy cũng giống như việc đảng cộng sản Việt Nam đã ký kết hai hiệp ước bán nước, dâng đất, lãnh hải cho Trung Cộng mới đây

Hứa Hoành

____

- Kể từ 2004, dân Trung quốc được tự do vào VN, đi khắp 64 tỉnh, không cần xin visa: sinh sống, làm ăn, cưới vợ, khu tự trị, ... vv
- Vào đầu năm 2007, chuẫn bị bầu cử Quốc hội (5/2007), tình hình rất giống năm 1945-46, sau khi Mỹ / Trung cộng cho VN vào WTO (với những điều kiện bí mật nào khác ??), sau khi TT NT Dũng yết kiến Vatican, sau khi cựu TT V V Kiệt và ông chủ tịch nước N M Triết nhiều lần kêu gọi " quên quá khứ, đoàn kết, lo kinh tế trước, ... ", thì đồng thời toàn dân thấy công an cs tiếp tục tăng tốc khống chế, đàn áp một cách khốc liệt tôn giáo, tín ngưỡng, phong trào dân chủ ở VN ngay vào dịp Tết 2007. Lịch sử đã và đang tái diễn !!?

ĐỪNG DẠY VÀ ĐỪNG HỌC CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN

by saigonxua @ 2007-03-06 - 03:38:31

LỜI KÊU GỌI SỐ 6
RevNgVanLy-TuDoHayLaChet
HỠI CÁC GIÁO SƯ, GIÁO VIÊN, SINH VIÊN, HỌC SINH VIỆT NAM

ĐỪNG DẠY VÀ ĐỪNG HỌC

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN

VÀ LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM NỮA !

- Xét rằng : Những điều khoản cơ bản nhất về Nhân quyền về tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do thông tin liên lạc, tự do lương tâm, tự do tôn giáo như điều 18, điều 19 của Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc ngày 10-12-1948 mà Cộng Sản Việt Nam (CSVN) xin gia nhập năm 1977 ; và đã được lặp lại rõ hơn tại điều 18 và điều 19 trong Công ước Quốc tế về Nhân quyền ngày 16-12-1966 mà Việt Nam ký tên gia nhập ngày 24-9-1982, không bao giờ được CSVN tuân giữ nghiêm túc đầy đủ cả : muốn đọc thư ai là đọc ; muốn giữ thư tín ai là giữ ; muốn hủy bỏ bất cứ tài liệu gì con người trên hành tinh nầy gửi cho nhau là toàn quyền định đoạt ; muốn nghe lén điện thoại ai cũng được ; muốn cắt điện thoại, điện thư ai là CSVN ngang nhiên làm mà không hề sợ một Tổ chức Quốc Tế nào can thiệp hết ; muốn cấm tài liệu nào lưu hành là cấm, muốn cho phép tài liệu nào lưu hành mới được phổ biến, như ở Việt Nam hiện nay Lời Kêu Gọi nầy làm sao ai dám in ấn, sao chụp ? Trong khi Công Ước Quốc Tế Về Nhân quyền của Đại hội đồng Liên hiệp quốc, ngày 16-12-1966 mà Việt Nam ký kết xin gia nhập ngày 24-9-1982 đã ghi rõ như sau :

Điều 19 §1. Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp vào.

§2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giơí, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của họ.

(Các Văn Kiện Quốc Tế Về Quyền Con Người, do Trung Tâm Nghiên Cứu Quyền Con Người xuất bản, NXB TP HCM, 1996, trang 117)

- Xét rằng : CSVN đã gieo rắc sự sợ hãi vô cớ quá lâu năm, đã áp bức tư tưởng / thông tin / ngôn luận quá nhiều, khiến lẽ ra mọi công dân văn minh tiến bộ nào của Việt Nam hôm nay đều phải có quyền hiên ngang tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến tương tự như tài liệu nầy, thì trong thực tế : nguyên việc đọc nó mà thôi cũng có thể phải chịu bao nhiêu phiền toái đàn áp rồi ; đến nỗi nhiều đảng viên và nhân viên Nhà Nước CSVN hôm nay vẫn không ngờ rằng mọi công dân VN thực sự có quyền như thế nầy. Ôi lạc hậu và bị áp bức bưng bít đến chừng nào !!!

- Xét rằng : Khi đưa ra 3 mục tiêu : độc lập, tự do, hạnh phúc cho Đất Nước Việt Nam vươn tới, Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) lại dùng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản để thực hiện, thành ra người CSVN tự mâu thuẫn ngay từ đầu. Giải pháp độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam đã và sẽ không bao giờ thành tựu bao lâu người CSVN còn mê muội cố bám vào phương pháp xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, bởi vì tự bản chất, 2 chủ nghĩa nầy bao hàm sự độc đoán toàn trị, nên không thể bao hàm ý niệm tự do chân chính và đầy đủ trong đó được. Ngày nay chính nhiều người cộng sản thành tâm thiện chí cũng đã đủ điều kiện để tự khẳng định được điều nầy.

- Xét rằng : Chủ Nghĩa Cộng Sản (CNCS) và Chủ Nghĩa Xã Hội (CNXH) chỉ là 2 lý tưởng quá cao vời, chúng rất cao đẹp trong lý thuyết, nhưng chúng hoàn toàn ảo tưởng trong thực hành, khiến con người cộng sản thực sự chưa bao giờ xuất hiện trên trái đất, như người ta vẫn nói : "20 tuổi mà không yêu CNXH là người không có con tim, nhưng 30 tuổi mà vẫn yêu CNXH là người không có đầu óc !" hoặc như báo Văn Nghệ VN đã đăng lời than phiền của các bà mẹ nuôi VN từ lâu : "đảng viên thì nhan nhản mà cộng sản không có một người !" ; làm cho trên hành tinh nầy hiện nay chỉ còn 4 nước vẫn cố tình ngoan cố đeo đuổi là Trung Quốc, Cu Ba, Bắc Triều Tiên và Việt Nam mà thôi.

Xét rằng : CNXH không tất yếu là cần thiết và phải đem áp dụng bằng mọi giá vì các nước khác ngay trong vùng Đông Nam Á nầy hoàn toàn xa lạ hoặc thẳng tay tẩy chay nó, thế mà các nước nầy ngày nay giàu có hơn VN rất nhiều. CNXH cũng không ưu việt chút nào, bằng chứng rõ ràng là hơn 2,5 triệu người Việt đã phải liều chết vượt đại dương, rời bỏ quê hương tìm không khí tự do mà thở !

Xét rằng : (Cộng Sản Việt Nam) CSVN buộc mọi học sinh, sinh viên phải học và yêu CNXH trong khi hầu như chẳng còn ai thích dạy và cũng chẳng còn ai thích học chủ nghĩa này. Lẽ ra chỉ có 3 triệu đảng viên và 5 triệu đoàn viên cộng sản nên học (nếu còn tin vào CNXH) và đem ra áp dụng nó trong thực tế sao cho hiệu quả về kinh tế, xã hội để dân chúng được no ấm hạnh phúc. Còn toàn dân có quyền nghiên cứu, phê phán xem việc xây dựng CNXH có thực sự đạt đến lý tưởng nó đề ra hay chỉ là ảo tưởng ? Chắn chắn buộc mọi mọi công dân phải học và yêu một chủ nghĩa đã phá sản tại quê hương nó là nước Nga và thất bại thê thảm tại Việt Nam là áp bức tư tưởng quá thô bạo rồi !

- Xét rằng : Cách trình bày về lịch sử ĐCSVN như hiện nay trong các sách vở, tài liệu và giáo trình giảng dạy / học tập tại các trường / lớp ở Việt Nam hoàn toàn không trung thực, đầu độc bao thế hệ lớp trẻ Việt Nam. Thực tế đã thật sự xảy ra là :

- ĐCSVN đã góp công giành độc lập cho Việt Nam từ tay thực dân Pháp, nhưng sự nghiệp nầy không phải chỉ một mình người CSVN làm cho thành công, mà có sự đóng góp của rất nhiều người Việt và rất nhiều người thành tâm khác, của nhiều đảng phái khác mà ĐCSVN đã tiêu diệt họ để cướp công như thể chỉ có một mình ĐCSVN làm được điều nầy mà thôi ;

- ĐCSVN có sai lầm lớn là đem CNCS và CNXH vào Việt Nam, làm cho Việt Nam lạc hậu lùi lại hơn cả thế kỷ, trở nên một trong vài nước nghèo đói nhất thế giới hiện nay ;

- ĐCSVN có tội lỗi lớn là dùng mọi thủ đoạn gian trá để thủ tiêu hết các lực lượng yêu nước cùng giành độc lập cho Việt Nam thời thực dân Pháp ;

- ĐCSVN đã tiến hành cải cách ruộng đất một cách bạo tàn rùng rợn ở miền Bắc trong những thập niên 50 và 60 của thế kỷ XX làm hơn 300.000 người Việt chết oan ;

- ĐCSVN đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam từ 1960 – 1975 để áp đặt cho bằng được CNCS lên toàn Việt Nam, làm hơn 2 triệu thanh niên cả 2 miền Nam – Bắc chết thê thảm mà vẫn cứ lường gạt dư luận thế giới rằng đó là cuộc chiến chống Mỹ cứu Nước giải phóng miền Nam; tàn bạo nhất là giết dân hàng loạt lên đến hàng trăm ngàn trong vụ Tết Mậu Thân 1968 tại Huế bằng cách chôn sống và các hình thức thô bạo tàn nhẫn khác thế mà ở Huế vẫn ngang nhiên có một con đường tên là Xuân 68 ! CSVN đã dùng súng lớn bắn vào dân để giết chết hàng loạt cũng lên đến hàng trăm ngàn trong vụ đánh chiếm Quảng Trị 1972 trên chặng đường Quảng Tri – Diên Sanh được gọi là Đại Lộ Kinh Hoàng.

- ĐCSVN đã đàn áp thô bạo và tiêu diệt tàn nhẫn hàng chục vạn những người đối lập khắp cả nước Việt Nam và nhất là trong hàng trăm Trại Tập trung từ Bắc chí Nam từ những năm 1930 đến nay.

- ĐCSVN đã và đang gieo rắc một chủ nghĩa khuyến khích dối trá, thủ đoạn làm băng hoại các giá trị đạo đức mà các Tôn Giáo và Dân tộc VN ra công bồi đắp giữ gìn bao nhiêu đời, đến nỗi hiện nay ở Việt Nam ai không biết nói dối là không thể sống bình thường được, kể cả một số Chức Sắc cao cấp trong các Giáo hội cũng phải biết nói dối nhiều ít để được xuôi thuận công việc ; đặt bút xuống viết một đơn hành chánh đã phải cúi đầu viết dối "tự do – hạnh phúc" mặc dù chính người viết biết rõ làm gì có tự do – hạnh phúc ?

- ĐCSVN đã và đang gieo rắc một chủ nghĩa khuyến khích đấu tố, căm thù, khiến chính các đảng viên xét lại hay sai phạm cũng không chịu nổi sự căm thù của các đồng chí cũ của mình !

- ĐCSVN đã và đang gieo rắc một chủ nghĩa đề cao vô thần, khiến một bộ phận dân chúng mất phương hướng để thực hiện chính sứ mạng làm người chân chính của mình.

Vì vậy, nhân danh các quyền chính đáng của mọi con người văn minh tiến bộ trên hành tinh nầy, khi bước vào thiên niên kỷ mới, tôi thiết tha kêu gọi :

HỠI CÁC GIÁO SƯ, GIÁO VIÊN, SINH VIÊN, HỌC SINH VIỆT NAM

ĐỪNG DẠY VÀ ĐỪNG HỌC

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN

VÀ LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM NỮA !

Kêu gọi tại Nhà Thờ Nguyệt Biều – An Truyền - Huế, ngày mồng 3 Tết Tân Tỵ 25 tháng 01 năm 2001.

Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý

Quản Xứ An Truyền

Sách Ðen Về Chủ Nghĩa cộng Sản

Sách Ðen Về Chủ Nghĩa cộng Sản - NVK

Cùng nhau tố cáo tội ác CSVN

NVK lược dịch

Lời ngỏ : Ngày 25/1/2006, Hội Ðồng Âu Châu đã thông qua Nghị Quyết 1481 nhằm kêu gọi thế giới lên án những tội ác của các chế độ độc tài toàn trị cộng sản. Ðiều 7 của Nghị Quyết này đã viết : "Việc đánh giá về đạo đức và lên án các tội ác đóng một vai trò quan trọng trong việc giáo dục các thế hệ trẻ".

Dưới sự thống trị của đảng CSVN từ hơn 60 năm qua tại miền Bắc và từ hơn 30 năm trên cả nước, dân tộc Việt Nam đã và đang là nạn nhân của một chế độ với những chính sách cai trị vô cùng khắc nghiệt như: Cải cách ruộng đất, Nhân Văn Giai Phẩm, cuộc tàn sát Tết Mậu Thân, chính sách tù cải tạo, đàn áp những tiếng nói dân chủ v.v....

Để được góp phần cùng đồng bào trong việc phổ biến những tài liệu tố cáo tội ác của đảng CSVN.

Đánh dấu 80 năm cách mạng tháng 10 tại Nga, một số nhà nghiên cứu và sử gia của Pháp đã cho xuất bản tập tài liệu mang tựa đề "Livre noir du commumisme - crimes, terreur, répression" (Sách đen về chủ nghĩa cộng sản - tội ác, khủng bố và đàn áp)". Quyển sách dày 848 trang, vạch ra một cách chính xác về tội ác của cộng sản. Đây là một bức tranh đen tối của lịch sử nhân loại, mà một trong những tác giả là ông Stéphane Courtois, giám đốc nghiên cứu thuộc Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu về Khoa Học của Pháp (Centre Nationnal de la Recherche Scientifique), cho rằng cần phải vạch ra để trả lại danh dự cho những người đã chết vì chủ nghĩa cộng sản. Bằng những con số thống kê, các tác giả của tập tài liệu này đã đưa ra con số nạn nhân của cộng sản 85 triệu người. Có nghĩa là trung bình mỗi năm hơn 1 triệu người là nạn nhân của cộng sản trong 80 năm qua.

Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng xin được trích dịch một số đoạn trong tập sách này, đặc biệt là những đoạn có liên quan đến Việt Nam.


Bài "Les Crimes du Communisme" (Tội ác của Cộng Sản), tác giả Stéphane Courtois :

Trang 12:

Cộng sản mà chúng ta nói đến ở đây không nằm trong bầu trời của những tư tưởng. Mà đây là cộng sản thực tế, đã xảy ra ở một thời kỳ nhận định, tại những quốc gia có thật, được thể hiện qua những lãnh tụ nổi tiếng Lénine, Staline, Mao, Hồ Chí Minh, Castro, v.v...

...Vượt lên trên mức độ tội ác cá nhân, hoặc tàn sát cục bộ địa phương theo hoàn cảnh, các chế độ cộng sản củng cố quyền hành bằng cách nâng việc tàn sát quần chúng lên hàng chính sách cai trị... Đúng là sau một thời gian ngắn hay dài vài năm ở Đông Ấu đến vài chục năm ở Liên Xô và Trung Quốc cường độ của sự khủng bố có bớt đi, chế độ tự ổn định bằng cách quản lý sự đàn áp thường nhật, sự kiểm duyệt mọi trao đổi, kiểm soát biên giới, trục xuất người ly khai. Nhưng "ký ức về khủng bố" tiếp tục làm cho tin tưởng rằng sẽ có đàn áp, và điều này rất hiệu nghiệm. Không một trường hợp nào thoát khỏi qui luật đó: Trung Quốc, Bắc Hàn, và ngay cả Việt Nam của "Bác Hồ đáng yêu" hay Cuba của Fidel Castro rực rỡ...

Trang 14:

... một bản sơ kết với những con số ước lượng tối thiểu còn phải làm cho chính xác hơn, nhưng cũng cho thấy cái tầm mức của vấn đề và tính nghiêm trọng của nó:

Liên Xô, 20 triệu người,
Trung Quốc, 65 triệu người chết,
Việt Nam, 1 triệu người chết,...

Trang 38:

Bổn phận ghi nhớ và ghi vào lịch sử (tội ác của cộng sản), đang như ngọn đèn leo lét dễ bị tắt ở những nước cộng sản còn cầm quyền như Trung Quốc, Bắc Hàn, Cuba, Lào, Việt Nam.

Trang 27:

Người ta biết gì về những tội ác của cộng sản? ...

Ở đây người ta không khỏi ngạc nhiên vì một sự đối chọi rõ rệt. Nhiều nhà nghiên cứu đã tìm tòi mấy chục năm nay về vấn đề (tội ác của Đức quốc xã). Hằng ngàn sách, hằng chục phim đã được dành cho nó...

Vậy mà ta không hề thấy tội ác của cộng sản được nghiên cứu giống như thế. Trong khi tên của Himmler, Eichman được cả thế giới biết đến như là biểu tượng của sự dã man trong thời đại mới, ít người biết đến tên của Djerzinski, Iagoda hay Iejov. Còn Lénine, Mao, Hồ Chí Minh và ngay cả Staline, lạ lùng thay, vẫn còn được nhiều người tôn sùng...

Bài "Le Komintern à l’Action" (Quốc Tế Cộng Sản hành động), tác giả Stéphane Courtois và Jean-Louis Panné:

Trang 341:

Tại Đông Dương, lúc đầu, tình thế có khác. Từ năm 1933, tờ-rốt-kít (đệ tứ) của nhóm "Tranh Đấu" và cộng sản hoạt động chung. Ảnh hưởng của tờ-rốt-kít đặc biệt mạnh ở phía nam bán đảo (Đông Dương). Năm 1937, một chỉ thị của Jacques Duclos cấm đảng cộng sản Đông Dương tiếp tục hợp tác với các thành viên của nhóm "Tranh Đấu". Trong những tháng sau ngày Nhật bại trận, một nhánh tờ-rốt-kít khác Liên Minh Cộng Sản Quốc Tế (LMCSQT) gây được một ảnh hưởng khiến các lãnh tụ cộng sản lo lắng. Tháng 9/1945, khi quân Anh vừa đến nơi, LMCSQT chỉ trích nặng nề sự đón tiếp ôn hoà của mặt trận Việt Minh do Hồ Chí Minh thành lập tháng 5 năm 1941. Ngày 14 tháng 9/1945, Việt Minh tung một chiến dịch lớn nhắm vào cán bộ tờ-rốt-kít cấp cao mà không gặp phản ứng. Nhóm này bị bắt và hầu hết đều bị giết sau đó... Giai đoạn hai của chiến dịch là: Việt Minh quay qua tấn công các thành viên cơ sở của nhóm "Tranh Đấu". Bị giam tại Bến Súc, họ đều bị (Việt Minh) giết khi quân Pháp tiến gần đến nơi. Tạ Thu Thâu, lãnh tụ lịch sử của phong trào này, bị bắt một thời gian sau đó, ông bị hành quyết tháng Hai 1946. Hồ Chí Minh đã chẳng từng viết rằng: những người tờ-rốt-kít "là bọn phản bội và bọn gián điệp khốn kiếp nhất" đó hay sao? Bài "Chine: une Longue Marche dans la Nuit" (Trung Quốc, Vạn Lý Trường Chinh trong đêm tối), tác giả: Jean-Louis Margolin.

Trang 505:

Từ ngày phát hành hồi ký của Hoàn Văn Hoan (trốn qua và theo Bắc Kinh), người ta biết rằng từ 1950 cho đến hiệp định Genève 1954, rất nhiều cố vấn Tàu điều khiển quân đội và hành chánh của Việt Minh, và khoảng ba mươi ngàn lính của Bắc Kinh, nhất là công binh, thay thế quân đội Bắc Việt phải đi đánh nhau trong miền Nam từ 1965 đến 1970. Tướng Võ Nguyên Giáp, người thắng trận Điện Biên Phủ, vào năm 1964, đã nhìn nhận một cách gián tiếp sự đóng góp của Trung Quốc: "Từ năm 1950 trở đi, sau khi Trung Quốc thắng trận, quân đội và nhân dân ta đã học được nhiều bài học quí báu từ quân đội nhân dân giải phóng Trung Quốc. Ta đã được giáo dục bởi tư tưởng quân sự của Mao chủ tịch. Đó chính là nhân tố quan trọng đã giúp quân đội ta trưởng thành và góp phần vào những thắng lợi liên tiếp của ta". Để đền đáp, đảng cộng sản Việt Nam (lúc ấy mang tên đảng Lao Động), ghi vào điều lệ của mình từ năm 1951: "Đảng Lao Động mang ơn học thuyết Mác, ăng ghen, Lê nin, Xta lin. Và mang ơn tư tưởng Mao Trạch Đông ứng dụng vào thực tế cách mạng Việt Nam, xem như là cơ sở lý luận của tư tưởng, là kim chỉ nam của mọi hành động của mình". Trung tâm hệ thống chính trị Việt Nam là chỉ đạo quần chúng và cải tạo. "Cheng feng" (cải tạo phong cách lao động) được hình thành ở Vân Nam, đổi ra tiếng Việt "chỉnh huấn", là khái niệm chỉ đạo của các cuộc thanh trừng tàn bạo những năm 50.
Bài "Vietnam: les Impasses d’un Communisme de Guerre" (Việt Nam: những ngõ cụt của một chế độ cộng sản chủ chiến), tác giả: Jean-Louis Margolin.

Trang 617:

Ngay ngày hôm nay, nhìn nhận những tác hại của cộng sản Việt Nam vẫn là một việc khó làm đối với nhiều người Ấu châu. Những người này, khi họ hoạt động chống những tác hại khác của chủ nghĩa thực dân Pháp, của đế quốc Mỹ, trên thực tế họ đã về phe với đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN). Từ đó đến việc nghĩ rằng ĐCSVN thể hiện nguyện vọng của một dân tộc, rằng nó theo đuổi mục tiêu xây dựng một xã hội nhân ái và công bằng, chỉ có một bước ngắn. Vẻ xuề xòa của Hồ Chí Minh là người sáng lập ra và điều khiển nó đến năm 1969, sự kiên cường của những chiến sĩ của nó và sự tuyên truyền khôn khéo bằng tư tưởng dân chủ và hòa bình ở nước ngoài... giúp người ta làm cái bước ấy. Khó có cảm tình với Kim Nhật Thành và cái chế độ cứng ngắc của y bao nhiêu, thì càng dễ ưa sự khắc khổ mà tươi cười của mấy quan đỏ Hà Nội bấy nhiêu, và dễ chê cái chế độ thối nát Sài Gòn của Nguyễn Văn Thiệu (1965-1975). Người ta muốn tin tưởng rằng ĐCSVN không là một đảng xta-li-niêng khác, rằng trước nhất nó mang tính dân tộc chủ nghĩa, và nó dùng nhãn hiệu cộng sản để nhận viện trợ của Tàu và Liên Xô.

Không có vấn đề phủ nhận lòng yêu nước của những người Việt Nam cộng sản, họ đã chiến đấu với một quyết tâm hiếm có trong nửa thế kỷ chống Pháp, Nhật, Mỹ và Tàu: ở Việt Nam buộc tội "phản quốc" hoặc "Việt gian" thường có ý nghĩa giống như tội "phản cách mạng" ở Trung Quốc. Nhưng thật ra thì không có nơi nào mà chủ nghĩa cộng sản lại đối chọi với chủ nghĩa dân tộc cả, kể cả nhủ nghĩa dân tộc quá khích, bài ngoại. Thế nhưng, chỉ cần không tự che lấy mắt mình, người ta sẽ rất dễ nhận thấy một chủ nghĩa tôn thờ xtalin - mao rất hạ tiện núp dưới lớp vẹc-ni của một sự nhất trí toàn dân.

Đảng cộng sản Đông Dương non trẻ gặp nhiều khó khăn lúc ban đầu. Mới vừa thành lập xong vào năm 1930, qua một vụ án ồn ào nó đã phải đương đầu với hậu quả của hành vi sai quấy của một số đảng viên ở Sài Gòn. Vô đảng từ 1928, bị ảnh hưởng của những hội kín và của những hành động khủng bố yêu nước, họ đã kêu án và hành quyết, rồi thiêu xác một đồng chí, chỉ vì người này đã tán tỉnh một nữ đảng viên. Năm 1931 nó lao một cách khá điên cuồng vào việc xây dựng "xô viết nông dân Nghệ Tỉnh" (bắt chước kiểu Quảng Tây, trong khi Việt Nam không có đất mênh mông như Trung Quốc...), lập tức nó bắt tay vào việc giết hằng trăm địa chủ; một phần dân chúng bỏ trốn, làm cớ cho quân lính thực dân trở lại một cách mau lẹ và hùng hỗ hơn. Khi đảng cộng sản Đông Dương, ẩn mình dưới "Mặt Trận Thống Nhứt" Việt Minh, dám vũ trang chiến đấu ở bình diện lớn mùa xuân 1945, nó đánh vào "Việt gian" và "phản động" (thường là bao gồm tất cả công chức tại chỗ), hơn là đánh vào quân chiếm đóng Nhật, vũ trang đầy đủ hơn; một người trách nhiệm của họ đề xướng chiến dịch ám sát để "thúc đẩy phong trào đi lên nhanh chóng". Địa chủ và quan lại cũng là những đối tượng được tuyển chọn; nhiều "tòa án nhân dân" được dựng lên để xử, tuyên án và tịch thu tài sản của họ. Nhưng khủng bố còn nhằm cả vào các đối thủ của đảng cộng sản Đông Dương đang yếu kém, với chỉ có khoảng năm ngàn đảng viên: nên cần phải dọn dẹp sạch sẽ một cách thật mau lẹ, để chiếm giữ một mình vai trò lãnh đạo phong trào toàn dân. Đại Việt, đảng quốc gia thân Nhật, bị ruồng bố dã man: cơ sở Việt Minh ở Sơn Tây từng xin Hà Nội một máy phát điện và một chuyên viên để tra khảo "phản quốc" hàng loạt.

Cách mạng tháng Tám đưa Hồ Chí Minh lên nắm quyền khi Nhật đầu hàng, và đảng cộng sản Đông Dương làm nòng cốt của Nhà Nước mới. Họ lợi dụng mấy tuần lễ trước khi quân đồng minh đến (Anh và Pháp trong Nam, Tàu ngoài Bắc) để gia tăng thanh toán đối thủ. Các người ôn hòa chủ trương lập hiến (đứng đầu là Bùi Quang Chiêu) và giáo phái Hòa Hảo (kể cả người sáng lập ra đạo Huỳnh Phú Sổ...) không bị bỏ quên, không hơn gì nhà trí thức lớn và chính trị gia thiên hữu Phạm Quỳnh. Nhưng nhóm tờ rốt kít, ít nhưng năng động ở vùng Sài Gòn, mới là nạn nhân chính của cuộc tàn sát: lãnh tụ của họ, Tạ Thu Thâu, bị bắt vào tháng Chín tại Quảng Ngãi, đã bị các cuộc khủng bố tiêu diệt đặc biệt càn quét, và một lãnh đạo cộng sản vùng Sài Gòn, Trần Văn Giàu, được đào tạo ở Moscou, bao che đợt khủng bố ấy, mặc dầu về sau này ông ta chối cãi trách nhiệm. Ngày 2 tháng 9 ông tuyên bố: "Nhiều tên phản quốc đang tập trung để phục vụ kẻ thù[...] cần phải trừng trị bọn gây rối tại nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, chúng tạo cớ cho kẻ thù xâm lược chúng ta". Một bài báo Việt Minh ở Hà Nội ngày 29 tháng 9 kêu gọi thành lập tại mỗi khu phố hoặc mỗi làng những "ban thanh trừng việt gian". Hằng chục, có thể hằng trăm tờ rốt kít bị rượt bắt và hạ sát; số khác đang tham gia bảo vệ Sài Gòn chống lại người Anh và Pháp vào tháng 8, bị cắt lương thực và súng đạn: phần lớn sẽ bị tử thương. Ngay từ 25 tháng 8 một cơ cấu An Ninh Nhà Nước được tổ chức theo kiểu mẫu Xô Viết tại Sài Gòn, và các nhà tù, mới vừa được làm trống lại đầy ắp trở lại; Việt Minh lập ra một "Ủy ban ám sát xung phong" đi rảo ngoài đường; ủy ban này tuyển nhiều phần tử lưu manh, và cầm đầu vụ khủng bố bài Pháp ngày 25 tháng 9, bỏ lại nhiều xác chết bị chặt chân tay. Có khi hễ là vợ Tây thì bị hạ sát ngay, dù người ta nói đó là hành động của "Việt Minh giả". Trong hai tháng 8 và 9, có đến hằng ngàn vụ ám sát, hàng chục ngàn vụ bắt giam; nhiều trường hợp là do sáng kiến của địa phương, nhưng chắc chắn là bộ máy trung ương có thúc đẩy đằng sau; về sau này đảng cộng sản công khai hối tiếc rằng lúc ấy đã không giết được nhiều "kẻ thù" hơn. Ở ngoài Bắc, phần đất được đảng cộng sản kiểm soát cho đến khi bùng nổ chiến tranh Đông Dương tháng 12 năm 1946, trại giam và công an chính trị đã được thiết lập, và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) trên thực tế được lãnh đạo bởi một đảng duy nhất. Những người quốc gia cấp tiến Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ, thành lập năm 1927), tranh chấp kịch liệt với Việt Minh có đổ máu ở cả hai phe, đã bị diệt từ tháng 7, trong khi mà họ cũng đã từng bị chính quyền thực dân đàn áp dữ dội như ĐCSĐD, nhất là sau khi họ tổ chức cuộc nổi dậy Yên Bái.

Bạo lực đàn áp của cộng sản sau này sẽ biến thành một cuộc kháng chiến lâu dài chống lại Pháp. Nhiều nhân chứng đã nói đến các trại giam tù binh lính viễn chinh Pháp. Nhiều người bị hành hạ và bị chết trong đó: trong số 20.000, chỉ có 9.000 sống sót khi hiệp định Genève (tháng 7/1954) cho phóng thích họ. Những bịnh dịch đáng sợ của vùng núi Đông Dương đã làm chết vô số tù bị ban quản trại Việt Minh cắt thuốc men và vệ sinh, nhiều khi bỏ đói. Đã có nhiều vụ đánh đập, có cả tra tấn thật sự, nhưng lính Pháp rất có ích lợi: được xem như là "tội phạm chiến tranh", họ bị buộc phải tự thú và hối cải, rồi phải suy nghĩ theo những người giam họ, mục đích là dùng họ để tuyên truyền chống lại phe của chính họ. Lối "cải tạo" theo kiểu Tàu này (Mao gởi sang hằng loạt cố vấn từ năm 1950), bằng những buổi tuyên truyền dồn dập, trong đó "học viên" phải tham gia tích cực, bằng cách gây chia rẽ giữa "phản động" và những người tù "tiến bộ", bằng lời hứa (kể cả hứa tha), đã thành công không ít, nhờ sự mệt mỏi thể xác và tinh thần của người bị giam. Kết quả này cũng là do lính Pháp lúc ấy được đối xử tồi tệ, nhưng vẫn khá hơn đối với người bản xứ về sau này.

Khi chiến thắng có vẻ đã gần kề, vào tháng 12/1953, cải cách ruộng đất được tung ra tại các vùng đã giải phóng. Trước cuối năm 1954, nó lan rộng ra toàn lãnh thổ ở phía Bắc vĩ tuyến 17, vùng được hiệp định Genève giao cho VNDCCH; cải cách ruộng đất chỉ chấm dứt vào năm 1956. Nhịp độ và các mục tiêu của nó giống như cải cách ruộng đất Trung Quốc từ năm 1946 đến 1952: để thắt chặt mối quan hệ giữa đảng tái xuất hiện vào năm 1951 và trung-bần nông, chuẩn bị phát triển kinh tế bằng cách tăng cường sự kiểm soát của Nhà Nước, và tiêu diệt các nhóm chống cộng đang thai nghén. Mặc dù hơn cả bên Tàu, giới thượng lưu nông thôn đã từng vì tinh thần dân tộc cao độ mà ồ ạt ủng hộ Việt Minh. Nhưng phương pháp, vừa tàn ác vừa hiếu sát, vẫn là những thứ đã được sáng chế ra bên nước láng giềng to lớn phía Bắc: trong mỗi làng, các cán bộ hăng say ra sức "khích" các nông dân được xếp hạng bần và trung, việc vận động đôi khi gặp khó khăn (có lúc phải nhờ đoàn hát giúp vào), tiếp theo là phiên tòa "tố khổ" nạn nhân và bắt đền tội, thường nạn nhân được chọn lựa một cách võ đoán (có ra chỉ tiêu để hoàn thành: 4 đến 5 % dân số cái 5 % muôn thuở của chủ nghĩa Mao!), và sau cùng là tử hình hoặc ít ra cũng tù giam và tịch biên tài sản; cả gia tộc phải bị ô nhục lây như bên Trung Quốc. Việc không kể đến "công lao chính trị" chứng tỏ tính giáo điều tàn nhẫn, đồng thời chứng tỏ ý muốn áp đặt độc tài của đảng CSVN. Một bà địa chủ và nhà buôn giàu, có hai con theo Việt Minh từ đầu, từng được tặng danh hiệu "có công với cách mạng", đã bị "đấu" hai lần, nhưng tá điền không mấy sốt sắng. Lập tức "một nhóm từng thực tập bên Tàu được đưa đến, và lật ngược được tình thế. [...] người ta tố bà Long đã giết ba tá điền trước năm 1945, đã ngủ với quan sứ Tây, đã liếm gót Tây và đã làm gián điệp cho chúng. Mệt lã vì bị giam lâu ngày, bà ta thú tội hết và bị kêu án tử hình. Con trai bà đang ở Trung Quốc được triệu về, lột chức, lột huy chương và kêu án hai mươi năm". Cũng như bên Tàu, bị buộc tội tức là đã phạm tội, đảng không thể sai lầm. Vậy giữ đúng vai tuồng mà người ta gán cho, là ít tai hại hơn cả: "Giết cha, giết mẹ rồi thú nhận, vẫn nhẹ tội hơn không phạm gì cả và không thú nhận".

Bạo lực được thúc đẩy và bùng nổ đến độ kinh hoàng. Tư tưởng "hận thù" đối với địch giai cấp hay người nước ngoài - được nhai đi nhai lại: theo Lê Đức Thọ, sau này được giải thưởng hòa bình cùng với Henry Kissinger, thì "nếu muốn nông dân cầm súng, trước hết phải khơi dậy nơi họ lòng căm thù". Tháng giêng 1956, cơ quan chính thức của đảng, tờ Nhân Dân, viết: "Giai cấp địa chủ sẽ không bao giờ nằm yên khi nó chưa bị tiêu diệt". Cũng như ở bên kia biên giới phía Bắc, phương châm là: "Thà giết lầm mười người vô tội, hơn là để sống sót một kẻ thù. Tra tấn được dùng rộng rãi, điều mà Hồ lo lắng cuối năm 1954: "Nhiều cán bộ vẫn còn (sic) phạm sai lầm là dùng cực hình tra tấn. Đó là một phương pháp dã man mà bọn đế quốc, tư bản và phong kiến dùng để đàn áp quần chúng và áp đảo cách mạng [...] Trong giai đoạn hiện nay (lại sic) triệt để cấm dùng cực hình tra tấn".

Nét độc đáo so với kiểu mẫu Tàu là : đi kèm với việc "sửa sai" xã hội tức cải cách ruộng đất, có việc cải cách đảng (bên Tàu thì trễ hơn); ảnh hưởng của đảng viên thuộc thành phần thượng lưu trong đảng có thể giải thích việc nầy. ở đây cũng vậy, người ta nói rằng có 5 % là phần tử Việt Nam Quốc Dân Đảng len lỏi vào đảng; do nhớ lại những cuộc thanh trừng ở Quảng Tây, người ta săn đuổi những bóng ma "phản cách mạng CB" (CB : chống bôn sê vích). Cơn điên loạn vượt khỏi mọi giới hạn : nhiều anh hùng của chiến tranh Đông Dương bị ám sát hoặc tống giam. Vết chấn thương tinh thần thật kinh khủng, và trong ngôn ngữ của người cộng sản Việt Nam, "1956" (năm cao điểm của chỉnh huấn), đến nay vẫn còn gợi lên sự sợ hãi tột cùng. "Một bí thư đảng ủy ngả gục dưới lằn đạn của đội hành quyết đã hô to : "Đảng cộng sản Đông Dương muôn năm"! Vì không hiểu nổi điều gì đã xảy đến cho mình, ông ta chết mà nghĩ rằng mình bị bọn phát xít giết. Số tổn thất nhân mạng rất khó ước lượng, dù sao cũng là rất lớn : có lẽ khoảng 50.000 vụ hành quyết ở nông thôn (không kể chết trận), tức khoảng 0,3 hoặc 0,4 % dân số (rất gần với tỉ lệ trung bình nạn nhân của cải cách ruộng đất Trung Quốc); khoảng từ 50.000 đến 100.000 người bị tống giam; có đến 86 % được thanh lọc trong các tổ đảng ở nông thôn, trong số cán bộ kháng chiến chống Pháp có tới 95 % bị khai trừ. Vào tháng Bảy 1956, người trách nhiệm cuộc thanh trừng nhìn nhận là đã có "sai lầm". Theo ông ta thì : "Ban chỉ đạo chỉnh huấn đánh giá lệch lạc tổ chức của đảng, đã ước lượng rằng tất cả các tổ đảng nông thôn, nhất là vùng mới giải phóng, đều bị địch nắm hoặc len lỏi vào, rằng ngay cả cơ quan lãnh đạo quận huyện và tỉnh cũng rơi vào tay giai cấp địa chủ và bọn phản cách mạng". ở đây ta thấy một thứ tranh phác họa trước việc : Khờ-me lên án toàn bộ "dân mới". (Chú thích của người dịch : "dân mới" là tất cả những ai không vô rừng với Khờ-me đỏ từ đầu).

Trước tất cả mọi nơi khác, từ năm 1951, quân đội đã tổ chức chỉnh huấn trong hàng ngũ của mình, chỉnh về mặt ý thức hệ hơn là đàn áp thể xác. Từ năm 1952 đến năm 1956, sửa sai trở nên gần như thường xuyên. Các buổi hội thảo căng thẳng đến nỗi phải tịch thu dao và lưỡi dao cạo, bật đèn sáng suốt đêm để ngăn ngừa tự tử. Thế nhưng chính quân đội sẽ chấm dứt thanh trừng đầu tiên. Các cấp chỉ huy bị khủng bố đến nỗi khá nhiều người phản ứng bằng cách bỏ trốn qua miền Nam Việt Nam, khiến cho quân đội lo bị suy yếu, trong khi nó có nhiệm vụ thống nhất xứ sở. So với Trung Quốc thì những nhu cầu quân sự của Việt Nam làm nảy sinh một đầu óc thực tiễn nào đó, và vì đất không rộng nên khiến cho kẻ bất mãn dễ trốn đi : những điều đó làm cho bạo lực võ đoán có phần nào bớt đi. Số phận của người công giáo miền Bắc (1,5 triệu người, khoảng 10 % dân số) cũng chứng minh điều này : bị bức hại từ đầu, nhưng rất có tổ chức, họ lợi dụng con đường thoát thân của sự ra đi ồ ạt, dưới sự bảo vệ của những đơn vị Pháp cuối cùng; ít nhất 600.000 người đã vô Nam.

Người ta cũng bắt đầu cảm thấy tác dụng của Đại Hội XX đảng cộng sản Liên Xô (tháng Hai), và Việt Nam sẽ được dè dặt nếm mùi "Trăm Hoa" ngay từ tháng Tư 1956. Vào tháng Chín tập san Nhân Văn được phát hành, tiêu biểu cho khát vọng tự do của giới trí thức. Nhiều nhà văn dám chế diễu văn của Tố Hữu, nhân viên kiểm duyệt chính thức của chế độ và cũng là tác giả bài thơ dưới đây:

Hoan hô Sít-ta-lin
Đời đời cây đại thọ
Rợp bóng mát hòa bình
Hoan hô Hồ Chí Minh
Cây hải đăng mặt biển
Lửa trường kỳ kháng chiến,
Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong
Cho đảng bền lâu,
Thờ Mao chủ Tịch,
thờ Sít-ta-lin bất diệt

Thương thay cho họ : ngay từ tháng Chạp 1956, các tập san văn học có tính cách phê bình bị cấm, và một chiến dịch tương tợ như chiến dịch chống Hu Feng (Hoa Phong) và chống tự do sáng tác bên Tàu, dần dần lan rộng, với sự hậu thuẫn của Hồ Chí Minh. Mục đích là nắm chắc các tay trí thức Hà Nội, đảng viên hoặc thân cận với đảng, nhiều người từng hoạt động ở chiến khu. Đầu năm 1958, 476 "tên phá hoại trên mặt trận tư tưởng" bị bắt buộc phải tự kiểm thảo, và tống đi công trường lao động hoặc những trại tương đương với "trại lao cải" của Trung Quốc. Cũng như bên Tàu, sự cám dỗ của đường lối Krút-sốp mau lẹ bị đào thải để trở lại con đường độc tài. Nền độc tài này vừa được nuôi dưỡng vừa được giới hạn, nếu so với tình trạng không kềm chế được bên nước láng giềng phía Bắc, chính là do cuộc chiến ở Nam Việt Nam, được khơi dậy từ 1957 chống lại sự đàn áp của chủ nghĩa chống cộng thô bạo của chế độ Ngô Đình Diệm được Hoa Kỳ hậu thuẫn; tháng 5/1959 đảng CSVN ngầm quyết định mở rộng và triệt để ủng hộ cuộc chiến, bằng cách ào ạt gởi người và trang bị, vũ khí vô Nam, với một giá vôcùng đắtdonhândânmiền Bắc phải trả. Mặc dầu vậy tháng Hai 1959 một loại "bước nhảy vọt" được tung ra trong nông nghiệp, sau một loạt bài báo đầy hăng say của chính Hồ Chí Minh hồi tháng Mười 1958.

Những công trường trị thủy khổng lồ cộng với hạn hán trầm trọng khiến cho sản lượng sút giảm và gây ra nạn đói đáng kể, mà số nạn nhân sẽ không bao giờ được xác định. Song song với những nỗ lực chiến tranh, vẫn không ngừng việc thanh trừng hằng trăm cán bộ "thân Liên Xô" trong đảng, kể cả cựu thư ký riêng của "bác Hồ", lúc bấy giờ đảng CSVN và cộng sản Trung Quốc cùng có chung lập trường "chống xét lại". Nhiều người bị giam cả chục năm mà không được xét xử. Chiến tranh "chống Mỹ" kết thúc với Hiệp Định Paris (tháng Giêng 1973) đánh dấu sự rút quân của Mỹ, hoặc đúng hơn : kết thúc với sự sụp đổ của chế độ miền Nam (30 tháng Tư 1975); sự sụp đổ này đã không nối tiếp bằng một cuộc "tắm máu" như nhiều người lo sợ, và như đang xảy ra ở nước Căm Pu Chia láng giềng. Nhưng những người bị cộng sản cầm tù trong số có những người cộng sản hồi chánh bị đối xử một cách thậm tệ, nhiều người bị thanh toán trong những đợt di chuyển; và rõ ràng là trong cuộc nội chiến đồng thời là "chiến tranh giải phóng" đã có nhiều sự tàn ác và lạm quyền từ cả hai phía, kể cả đối với thường dân không chịu theo phe nào; khó biết được đã có bao nhiêu trường hợp và bên nào phạm nhiều hơn bên kia. Nhưng cộng sản đã tiến hành ít nhất một cuộc tàn sát lớn : trong mấy tuần lễ Việt cộng kiểm soát cố đô Huế, trong trận tấn công Tết Mậu Thân tháng Hai 1968, họ đã giết ít nhất ba ngàn người (hơn xa những vụ tàn sát tồi tệ nhất của Mỹ), trong đó có cả linh mục Việt Nam, nhà tu người Pháp, y sĩ người Đức, và tất cả công chức lớn nhỏ mà họ tìm thấy; nhiều người bị chôn sống, người khác được mời đi "học" và không bao giờ trở về. Khó mà hiểu được những tội ác này, tội ác mà rồi thủ phạm sẽ chối, tội ác cho thấy trước chính sách của Khờ-me đỏ về sau này. Nếu họ đã chiếm được Sài Gòn vào năm 1968, không biết cộng sản có làm như Khờ-me đỏ hay không?

Dù sao thì năm 1975 họ không làm như vậy. Thậm chí trong mấy tuần đầu ngắn ngủi, trên một triệu công chức và quân nhân chế độ Sài Gòn đã tưởng rằng "chính sách khoan hồng của bác Hồ" không phải là lời nói suông, cho nên họ không ngần ngại đi đăng ký với nhà cầm quyền mới. Rồi đầu tháng Sáu họ được triệu tập đi cải tạo, "ba ngày" cho binh sĩ, "một tháng" cho sĩ quan và công chức cao cấp. Thiệt ra ba ngày sẽ là ba năm, một tháng sẽ là bảy hoặc tám năm; những người "cải tạo" cuối cùng còn sống sót chỉ được tha vào năm 1986. Vào năm 1980, Phạm Văn Đồng (thủ tướng lúc bấy giờ) nhìn nhận có 200.000 tù cải tạo ở miền Nam; những ước lượng nghiêm túc nằm giữa số 500.000 và một triệu (trên tổng số 20 triệu dân), kể cả một số đông sinh viên, trí thức, nhà tu (nhất là Phật giáo, nhưng Công giáo cũng có), người hoạt động chính trị (trong đó có cả người cộng sản), phần lớn đã từng có cảm tình với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam; lúc này thì rõ ra Mặt Trận này chỉ là bình phong che đậy sự thao túng của cộng sản từ Bắc vô, điều này cho thấy họ vi phạm ngay từ đầu lời hứa sẽ tôn trọng những đặc tính của miền Nam. Cũng như hồi năm 1954-1956, đồng chí và chiến hữu của ngày trước, ngày nay được "chỉnh". Ngoài số tù bị giam nhiều năm ở những trại đặc biệt, cần phải kể thêm những tù cải tạo "nhẹ" mà số lượng không thể xác định, nhưng chắc phải là đông, bị quản thúc tại sở làm hoặc trường học nhiều tuần lễ. Cần ghi nhận là vào những giai đoạn tồi tệ nhất của chế độ miền Nam, những người chống đối thiên tả đã chỉ tố cáo rằng có hai trăm ngàn người bị giam...

Điều kiện giam giữ thì không phải nơi nào cũng như nhau. Nhiều trại ở gần thành phố không có rào kẻm gai, và chế độ giam có bó buộc nhưng không đến nỗi nhục nhằn. Trái lại những trường hợp "nặng" thì gởi lên vùng cao Bắc Việt xa xôi nước độc; nhiều trại loại này đã từng được tù binh Pháp khai trương. Nơi đây hoàn toàn cách biệt, sức khỏe được chăm sóc ở mức tối thiểu, và thường thì ai sống sót là nhờ lương thực của gia đình gởi cho, và gia đình khánh tận để làm việc này. Trong các nhà tù chính thức cũng có tình trạng thiếu ăn trầm trọng (mỗi ngày hai trăm gam gạo đỏ đầy sạn); nói chung, nhà tù được dành cho kẻ bị "giam cứu", đang trong vòng điều tra. Đoàn Văn Toại có mô tả khá kỹ loại nhà tù này, nó nhắc ta nhớ lại các trung tâm giam giữ của Trung Quốc, và còn tệ hơn Trung Quốc về sự chật hẹp, chen chúc, về điều kiện vệ sinh, về sự thô bạo của hình phạt chủ yếu là đánh đập có khi đến chết, về sự kéo dài của thời gian thụ lý. Tám hoặc bảy chục người được nhét vô một phòng dự trù cho hai chục, không thể ra ngoài sân vì ở đây đang xây cất thêm trại khác; các xà lim có từ thời thực dân Pháp là những nơi nghỉ ngơi đầy tiện nghi so với phòng giam chung. Khí hậu nhiệt đới và sự thiếu thông hơi khiến cho khó thở (tù nhân thay phiên nhau đứng thở trước cái cửa sổ nhỏ xíu), mùi hôi nồng nặc, bệnh ngoài da lan tràn và thường xuyên. Đến nước cũng bị hạn chế gắt gao. Nhưng có lẽ điều khổ sở khó chịu đựng nhất là bị giam mà không ai hay biết, nhiều khi năm này qua năm khác, đến gia đình cũng không được liên lạc. Ở đây tra tấn được dấu kín, nhưng có thật, cũng như có thủ tiêu; hơi vi phạm nội quy một chút là bị nằm phòng tối; thiếu ăn đến nỗi chỉ qua vài tuần là thần chết đã chực sẵn để ra tay.

Bên cạnh bức tranh "giải phóng" lạ đời này, cần phải thêm nỗi thảm thương của hàng trăm ngàn thuyền nhân, chạy trốn sự đàn áp và sự khốn cùng, mà thường là bị chết chìm hoặc bị hải tặc giết. Một sự nới lỏng tương đối được bắt đầu vào năm 1986 : tổng bí thư đảng cộng sản Nguyễn Văn Linh lúc ấy cho thả phần lớn các tù chính trị, năm 1988 đóng cửa các "trại giam- chờ chết" vùng cao nguyên. Một bộ Hình Luật giờ nầy mới được công bố. Nhưng sự khai phóng còn ngập ngừng và nhiều mâu thuẫn, và thập niên này được đánh dấu bởi một sự đu đưa giữa phe bảo thủ và phe cải cách. Những cơn "ngứa đàn áp" làm xìu đi nhiều niềm hy vọng, mặc dầu bây giờ việc bắt bớ có nhằm đối tượng, bớt lung tung, và tương đối ít bắt hàng loạt. Nhiều nhà trí thức và nhà tu bị bức hại hoặc bị bắt giam; sự bất mãn tại nông thôn miền Bắc đã đưa đến nhiều cuộc nổi dậy bị đàn áp thô bạo. Về lâu về dài và cuối cùng, cơ may lớn nhất để bớt căng thẳng và thêm cởi mở, có lẽ là kinh tế tư doanh; cũng như ở Trung Quốc, kinh tế tư doanh giúp cho một phần càng ngày càng lớn dân chúng thoát khỏi sự kiểm soát của Nhà Nước và của đảng. Nhưng đồng thời đảng cộng sản dần dần trở thành một đảng mafia làm ăn phi pháp và thối nát, điều này làm nảy sinh một hình thức kềm kẹp áp bức mới, tầm thường ít gây chú ý, đè nặng lên một dân số còn nghèo hơn cả dân Trung Hoa.

Chúc thư của những người tù yêu nước (trích đoạn)

Chúng tôi,

Công nhân, nông dân và vô sản,

Tu sĩ, nghệ sĩ, nhà văn và trí thức yêu nước hiện bị giam trong các nhà tù ở Việt Nam,

Trước hết xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với :

tất cả các phong trào tiến bộ toàn thế giới,

tất cả các phon